Bóng má trên cù lao Phú Phong

31/08/2012 - 11:02
A A

Kỷ niệm Ngày thương binh - liệt sĩ năm nay, tôi có dịp trở về làng quê Nhị Long hai lần được tuyên dương anh hùng, theo lời mời của anh Phạm Hoàng Em, Chủ tịch UBND xã.

Kỷ niệm Ngày thương binh - liệt sĩ năm nay, tôi có dịp trở về làng quê Nhị Long hai lần được tuyên dương anh hùng, theo lời mời của anh Phạm Hoàng Em, Chủ tịch UBND xã.

Đất anh hùng, chiến tranh khốc liệt nên số lượng gia đình chính sách ở Nhị Long rất nhiều, nhưng Chủ tịch Em lại rủ tôi đến thăm má Bùi Thị Vĩ, mà theo lời anh là tấm gương sáng trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ tại địa phương. Má tự nguyện hiến một diện tích đất khá lớn để làng xóm mở ba tuyến đường nhánh khiến cho bà con làng xóm vô cùng cảm kích. Hàng ngày, má vẫn chăm sóc vuông vườn, tạo nguồn thu nhập đáng kể, cộng với chế độ trợ cấp dành cho vợ liệt sĩ và bản thân là thương binh, mẹ tiện tặn tự lực dựng được ngôi nhà trên trăm triệu đồng, mà không trông chờ vào Nhà nước.

Dọc đường đi, anh Hoàng Em tranh thủ kể: Má Ba Vĩ năm nay đã ngoài tám mươi. Chồng má là liệt sĩ Trần Văn Trung, hy sinh hồi chống Mỹ. Bản thân má là thương binh hạng 2/4 nhưng vẫn tích cực tham gia công tác với cương vị Phó Chủ tịch Phụ nữ xã, là ngọn cờ đầu trong phong trào đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài Nhị Long. Không những vậy, gia đình má còn là nơi nuôi chứa cán bộ trung kiên. Chính nơi đây, không ít lần Tỉnh đội, các đơn vị địa phương quân Trà Vinh dừng chân huấn luyện. Tôi thật sự ngạc nhiên khi được chạy xe bon bon trên con đường trải đá vào nhà má, bởi cái xóm chưa đến ba mươi hộ gia đình cạnh “đám lá tối trời” vốn được xem là nơi khỉ ho cò gáy nhất nhì trong tỉnh Trà Vinh. Như hiểu được suy nghĩ của tôi, anh Hoàng Em bảo:

Cảnh đẹp của một cù lao thuộc tỉnh Trà Vinh. Ảnh: B.T

- Con đường này là do mấy chục hộ dân trong xóm noi gương má Ba hùn nhau làm lấy chứ Nhà nước chưa nhúng vào!

Cũng thật bất ngờ, trong câu chuyện của mình, mặc cho chúng tôi cố tình nài nỉ, má Bùi Thị Vĩ không nói về những việc mình làm được. Má bảo:

- Tụi con có muốn nghe chuyện ma không? Hôm nay, má kể cho tụi bây nghe chuyện về ma nhưng có thật, ở tại xứ sở mình mấy mươi năm trước!

Hồi xưa, cả cái xứ Nhị Long này ai cũng biết tới cái “đám lá tối trời”. Đó là một vùng bưng trấp không cày cấy được rộng cả trăm công của gia đình ông Tám Cóc. Không lẽ bỏ hoang, mấy đời nhà ông Tám “đạp” dừa nước lấn dần năn, lác. Dừa nước trên đất bưng trấp tốt không kể xiết, lá to chen kín vào nhau nên đi ở dưới cả ngày không nhìn thấy mặt trời. Vắng bóng người, cò diệc rủ nhau về làm tổ, dưới đất là đủ loại hổ đất, mái gầm, chồn, rái... Những năm đánh Mỹ, nhiều cơ quan của huyện Càng Long về đóng quân nơi đây, mà lâu dài nhất là trạm xá của Quân y huyện. Các cơ quan vận động gia đình ông Tám “bỏ hoang” luôn đám lá nên ngày càng mịt mùng, ô rô, cóc kèn chen nhau tầng tầng lớp lớp, chim cò, rắn rết mỗi lúc một nhiều thêm. Nhiều tin đồn nghe nổi da gà về những bóng ma, chắc là những thương binh không may bỏ mạng, cứ ẩn ẩn hiện hiện, khiến cho người yếu bóng vía ban đêm dẫu có cho vàng cũng không dám đi ngang qua đây.

Vậy mà một buổi sáng mùa đông năm 1966, ngay sau đêm bộ đội chủ lực 308 tiến công yếu khu Bãi San, do có chỉ điểm, địch tung cả tiểu đoàn bất ngờ “nhảy giò” xuống giữa “đám lá tối trời” đã tơi tả vì hàng trăm quả bom từ phản lực ném xuống; hàng ngàn viên pháo từ Càng Long bắn vào trước đó. Đội tự vệ của trạm xá kết hợp cùng du kích, cả những thương binh nhẹ đang điều trị cũng ôm súng chống càn. Khổ nỗi, tên chỉ điểm là người ở ngay trong xóm nên thằng giặc đổ quân chụp chính xác vào giữa trạm xá. Quân ta lui dần về phía sông Bần Tăng thì bị trực thăng võ trang phát hiện. Hơn hai mươi người vừa chiến sĩ vừa thương binh hy sinh, mà tới ngày nay Nhị Long vẫn còn làm giỗ hội.

Sau trận này, “đám lá tối trời” tan hoang. Cò diệc chiều chiều táo tác bay về, cứ lượn quanh mà không tìm được tổ để đáp xuống, cất tiếng kêu thảm thiết, trước khi vỗ cánh biệt tăm.

Những tin đồn ma trơi hiện hình cứ lởn vởn trong xóm. Không ai còn dám bén mảng đến “đám lá tối trời”.

Chừng hơn tháng sau, mới sáng sớm, chị Sáu Tốt bên Phú Phong chèo ghe qua tìm má Ba Vĩ. Vừa gặp má, chị nắm tay, lôi tuốt vô nhà mà đôi chân còn run lập cập:

- Má ơi! Có ma thiệt!

- Cái con này! - Má Ba vội trấn an người vợ bộ đội bên xóm vắng cù lao Phú Phong: Sao bây dại quá vậy? Chuyện ma trơi là do anh em cán bộ mình tung ra để kẻ xấu không dám lại gần chỗ đóng quân, chớ ma quỷ gì!

- Chồng con, ảnh cũng nói y hệt như má. Nhưng mà, má ơi! Đêm nào bò trong chuồng cũng vuột dây, nồi cơm nguội trong bếp cũng mất đi phân nửa, rồi chuối trên liếp vừa chín tới là bị tước cả buồng...

- Tại bây hơ hỏng hay ai đó đói quá nên làm ẩu... Ma quỷ gì, bây!

- Ăn trộm gì mà lần nào cũng hết nửa nồi cơm, còn chuối thì không chặt bằng dao mà tước tay. Thấy mà ớn! Mà má ơi! Hồi hôm, bên nhà chị Tư gần đó mất hai chiếc chiếu!

- Đó, bây thấy không! Ăn trộm chớ ma quỷ gì!

- Trời ơi! Ăn trộm gì đi lấy chiếu cũ, chiếu rách! Kiểu này, xóm cù lao Phú Phong chắc bỏ đi hết quá, ai dám ở nữa, má ơi!

Má Ba Vĩ lo thất. Cái xóm kiên cường bám trụ bên cù lao, mấy năm trời nay đâu có ai sợ thằng giặc đốt nhà, bắn pháo, tát dân mà nay bỏ đi hết là rối lớn rồi. Lấy ai nuôi chứa, ai tiếp tế, cung cấp tin tức cho du kích đánh giặc. Suy nghĩ một hồi, Má nói với chị Sáu:

- Thôi bây về bển đi, chuyện đó để má lo!

Quýt đường - một loại trái cây đặc sản của huyện Càng Long (tỉnh Trà Vinh) - nơi có cù Lao Phú Phong. Ảnh: B.T

Rồi má đi gặp mấy anh trong chi bộ, trong Xã đội, mấy chị trong Hội Phụ nữ... bàn tính. Đêm đó, và nhiều đêm nữa, má dẫn đường cho du kích Nhị Long bơi xuồng qua cù lao Phú Phong, ai nấy căng thẳng như vào trận phục kích địch. Hay đúng là ma thật? Hễ du kích phục ở đầu xóm thì ma về phá ở cuối xóm, du kích chuyển xuống cuối xóm thì sáng ra nghe mấy nhà giữa cù lao bị ma về phá tán. Gần một tuần lễ thức trắng, mệt mỏi.

Cho đến một đêm, bò nhà chị Sáu Tốt lại xổng chuồng. Ba họng súng đen ngòm dõi theo bóng đen từ dưới mương ngoi lên, kiểu đi như múa về phía nhà bếp. Bóng đen giở nắp nồi cơm...

- Đứng lại! Chạy, chúng tôi bắn! Kèm theo là tiếng kéo quy lát cho đạn lên nòng, khiến bóng ma sựng lại.

Bóng ma, đúng hơn là một người đàn ông tuổi ngoài ba mươi, mình mẩy ốm tong teo, da xanh tái, râu lởm chôm, tóc rối nùi, quần áo rách rưới... chẳng khác nào “xà niêng”. Chân trái bị vết đạn chưa lành hẳn, hèn gì khi nãy mọi người thấy hắn đi như nhúng nhảy. Khi được đưa vào chòi, anh ta vẫn làm thinh, lạnh lùng nhìn mọi người bằng đôi mắt khá sáng và cương nghị. Mãi đến khi nhận ra mình đang ở trong vùng giải phóng lỏm và những người lom lom khẩu súng là du kích, anh ta bật khóc và kể lại đầu đuôi câu chuyện.

- Tôi tên là Nguyễn Sơn Cước, gốc dân Cà Mau, là Đại đội trưởng Đặc công của Tiểu đoàn chủ lực 308. Hôm tiến công yếu khu Bãi San, tôi bị thương ở chân, máu ra nhiều nên bị ngất đi, không còn biết gì nữa. Đến khi nghe tiếng máy bay ném bom, rồi súng bộ binh của địch bắn inh ỏi tôi mới tỉnh dậy mà không biết mình đang ở đâu. Chung quanh không có một người, chỉ thấy toàn lá là lá. Nhìn vết thương được băng bó và nẹp garô, tôi biết mình được đưa về Quân y và chắc là anh em ra chống càn hết. Bước chân địch mỗi lúc một gần, nghĩ mình nằm lại đó không có tấc sắt trong tay, thế nào cũng chết nên tôi ráng chịu đau, cố hết sức lăn mình xuống sông, trốn vào gốc bần. Giặc đánh rát quá, với kinh nghiệm nhiều năm ở chiến trường, tôi men theo con nước, “thả tàu” ra khỏi trận địa, càng xa càng tốt mà cũng không biết mình đi đâu. Đến khi yên tiếng súng, tôi nhìn quanh thấy mình ở trên cù lao này nhưng không biết đường nào quay trở lại trạm Quân y. Cả tháng nay, tôi nằm ngoài lùm muôi, vừa kiếm cây thuốc tự điều trị vừa định hướng tìm đường quay về đơn vị.

Một anh du kích thắc mắc:

- Ở đây có nhiều gia đình cơ sở, sao anh không vào ở nhờ?

- Tôi nhiều lần bò đến sát chòi nghe ngóng, tìm hiểu nhưng nghe trong nhà có khi bắt đài Giải phóng, có khi bắt đài Sài Gòn, rồi đêm đêm nghe lính trong đồn la hét inh ỏi nên không hiểu nổi đây là vùng giải phóng hay ấp chiến lược. Thôi thì cứ tạm trộm cơm nguội, chuối trên cây của bà con mà sống đỡ qua ngày, đợi đến khi vết thương lành hẳn rồi tính tiếp.

Vậy là chị Sáu Tốt hiểu ra tại sao đêm đêm nhà mình hay mất cơm nguội.

Nhưng chị lại thắc mắc:

- Khi không anh lại mở dây thả bò làm chi cho nó phá mấy bụi chuối gãy đổ hết?

- Cả bụi chuối gãy đổ thì chủ nhà ít khi chú ý đến buồng chuối bị mất! - Sơn Cước cười như người biết lỗi.

- Rồi đêm hôm mưa gió muỗi mòng, con ăn ngủ ở đâu? - Má Ba không kềm được nước mắt.

Sơn Cước đưa mọi người đến “cơ ngơi” mà hơn tháng nay anh ung dung trú ẩn trong đó. Dưới một lùm muôi lớn, anh khoét một cái ổ khá rộng, đan kín lại bằng thân muôi và dây leo, cỏ dại nên bên trong có thể quan sát ra, còn bên ngoài nhìn vào chẳng phát hiện được gì. Trong ổ có hai chiếc chiếu, một lót nằm và một để đắp, giúp anh chống chọi với bầy muỗi đói. Cạnh đó là chiếc hộp quẹt, cái chén ăn cơm, chiếc bình tích gãy vòi, vài cái ly mẻ miệng... chắc người ta bỏ đâu đó mà anh lượm được. Chung quanh treo lủng lẳng mấy nải chuối, chín có mà xanh cũng có. Nhìn nơi mà người thương binh giấu mình hơn một tháng ròng rã, má Ba Vĩ bật khóc nức nở. Đêm đó, má đưa anh về ở ngay trong nhà mình, lo thuốc thang, bồi dưỡng cho anh mau bình phục: Một tháng sau, “bóng ma” trên cù lao Phú Phong đã hồi sức, trở lại vóc dáng người chiến binh xốc vác, nhanh nhẹn. Sau đó, qua đường giao liên, anh vượt sông Hậu trở về đơn vị chiến đấu cho đến ngày giải phóng.

Vậy sau ngày giải phóng, anh Sơn Cước có về thăm má không? - Tôi hỏi.

- Có! Đâu khoảng năm tám mươi, tám mốt gì đó nó có quay về tìm má. Nghe kể lại lần dự Đại hội Chiến sĩ thi đua khu Tây Nam bộ, nó báo cáo mấy tháng trời bị thương lạc đơn vị phải làm “bóng ma” trên cù lao Phú Phong, cả hội trường ai cũng rơm rớm nước mắt.

Cù lao Phú Phong, nay thuộc xã Bình Phú giáp ranh với “đám lá tối trời” Nhị Long qua con sông Bần Tăng. Ngày nay, cả dãy cù lao, cả đám lá tối trời đã thành những khu vườn xoài châu nghệ, quít đường xanh tươi mơn mởn. Ở đó có bà má tuổi ngoài tám mươi, mang trên mình nhiều vết thương vẫn ngày đêm hết lòng vì cháu con, vì làng xóm.

Theo Phạm Thành Cương, baobaclieu