Cố Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela: Từ kẻ gây rối trở thành… tù nhân vĩ đại

15/03/2015 - 17:02
A A

Đã gần tròn một năm kể từ ngày cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela ra đi ở tuổi 95 vào tháng 12-2013. Tại căn nhà ở Johannesburg, con gái cả Maki Mandela của ông nghẹn ngào chia sẻ: “Người ra đi là một sự giải thoát” khi trả lời phỏng vấn báo chí mới đây. Theo tiết lộ của cô con gái, Nelson Mandela đã phải chịu đựng những ngày tháng cuối đời trong đau đớn vì bệnh tật hành hạ . Nhưng rồi, ông đã trút hơi thở cuối cùng và ra đi thật bình yên. Đó quả thực là một trong những hình ảnh đẹp nhất mà ông để lại trên thế gian này.

Nelson Mandela được xem là một “tù nhân vĩ đại”, một người hùng chống nạn phân biệt chủng tộc Apartheid. Ông không chỉ cứu nguy cho dân tộc Nam Phi thế kỷ XX, xây dựng nền dân chủ đa chủng tộc mà còn trở thành biểu tượng của hòa giải và hòa hợp dân tộc. Tên tuổi Nelson Mandela lẫy lừng khắp thế giới, nhưng ít người biết cái tên Nelson là do cô giáo đặt theo tiếng Anh cho cậu bé Rolihlahla Mandela ngày xưa. Thuở nhỏ, cậu bé da đen ấy chỉ gắn bó với bộ lạc, xa lạ với thế giới của người da trắng đến mức đôi lần nhìn thấy người da trắng, cậu cứ ngỡ đó là những vị thần, trong lòng thoáng sợ sệt và nể phục.

“Hạt giống” của hoàng tộc

Trong vương triều Thembu trị vì lãnh thổ Transkei ở Cape Town (Nam Phi), Rolihlahla Mandela thuộc chi “út ít” của hoàng gia này khi ông cụ cố nội của Nelson từng là vua của người Thembu. Cái tên “cha sinh, mẹ đẻ” này mang ý nghĩa “kẻ gây rối”. Mãi đến năm bảy tuổi, khi Rolihlahla được đến trường, học theo chương trình phổ thông của Anh, mới được cô giáo đặt tên tiếng Anh là Nelson Mandela. Trong không khí làng quê cổ xưa và thanh bình, Nelson dành phần lớn thời gian để nghịch ngợm và “đánh nhau” với những đứa trẻ khác. Tuy nhiên sống cùng gia đình, Nelson không bao giờ hỏi cha mẹ câu gì thừa, mọi thứ đều tự học mà biết. Cuộc sống của ông tuân theo truyền thống, lễ nghi và phong tục nên Nelson sớm trở nên chững chạc.

11-co82-1.jpg

Nelson Mandela mồ côi cha khi ông mới chín tuổi, và phải rời quê hương cùng gia đình sau tang lễ người cha vài ngày. Nelson rất buồn, không chỉ vì cha đã mất mà vì cậu phải bỏ lại sau lưng một thế giới tươi đẹp. Sau này, ông được chăm sóc bởi một người giám hộ, cũng là bạn thân thiết của cha mình. Nelson được thụ giáo lúc 16 tuổi, rồi vào học viện Clarkebury Boarding. Nelson chỉ mất hai năm để lấy bằng sơ trung, thay vì ba năm như lệ thường. Để chuẩn bị lấp vào chỗ trống của cha ở Hội đồng Cơ mật, năm 19 tuổi, Nelson Mandela được chuyển đến Trường Healdtown, nơi tập trung hầu hết con cháu hoàng tộc Thembu. Sau đó, ông thi đậu vào Đại học Fort Hare dành cho người da đen.

Cuối năm thứ nhất, khi mới tròn 20 tuổi, Nelson tham gia một vụ tẩy chay những quy định của trường do hội sinh viên khởi xướng và bị buộc thôi học. Mầm mống phản kháng của chàng trai trẻ Nelson bắt đầu nhen nhóm từ đây. Năm 1944, lúc 26 tuổi, ông gia nhập tổ chức Đại hội dân tộc Phi (ANC) và trở thành một trong những người đầu tiên thành lập Liên minh thanh niên của ANC. Trở thành luật sư, Nelson mở văn phòng luật đầu tiên của người da đen ở Johannesburg để giúp đỡ cho người da đen.

Với lòng nhiệt tình và tài năng sẵn có, từ năm 1952, Mandela trở thành người tổ chức của phong trào đấu tranh phản đối chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid của nhân dân da đen Nam Phi. Nelson được bầu làm Phó chủ tịch ANC, bắt đầu cuộc đời hoạt động chính trị kéo dài hơn 60 năm với tư cách là lãnh tụ người Phi. Trong cuộc đấu tranh ấy, với dằng dặc những ngày tháng bị theo dõi khám xét, bắt bớ, giam cầm, chịu áp lực từ nhiều phía nhưng với sự dấn thân triệt để vì lý tưởng của mình, ông vẫn kiên trì không nao núng. Việc Đảng Quốc gia chiến thắng trên chính trường Nam Phi và ủng hộ chính sách phân biệt chủng tộc đã thôi thúc Nelson Mandela dấn thân vào hoạt động chính trị, xả thân vì sự nghiệp chống phân biệt chủng tộc. Hơn nửa đời người “vác tù và hàng tổng”, Nelson có 27 năm ở tù trong những điều kiện khắc nghiệt nhất. Mười tám năm đầu, Nelson bị giam giữ tại đảo Robben, phải lao động khổ sai ở một mỏ đá vôi. Ông bị xếp vào nhóm D (hạng tù nhân thấp nhất), mỗi sáu tháng mới có một người thân đến thăm và được nhận một lá thư.

Dù tù đày nhưng Nelson Mandela vẫn luôn xuất hiện trước mọi người với vẻ điềm tĩnh, tự tin. Hễ thấy Nelson thẳng người đầy kiêu hãnh đi dạo trong sân, những tù nhân khác như được “tiếp sức” để tiếp tục sống. Sau này, Nelson Mandela tiết lộ: “Dĩ nhiên, tôi sợ. Chỉ những kẻ mất trí mới không biết sợ. Nhưng, việc làm gương cho người khác là sức mạnh giúp tôi vượt qua nỗi sợ của mình”. Với uy tín của mình, từ thập niên 80, Nelson Mandela được phong trào nhân dân trong nước và quốc tế đòi trả tự do cho ông. Bằng tiếng tăm đặc biệt, từ trong ngục, Nelson Mandela đã tiến hành đối thoại với chính quyền Nam Phi, ông chỉ ra lối thoát duy nhất cho đất nước này chỉ có thể bằng con đường đàm phán giữa chính phủ và ANC.

Lịch sử có những lựa chọn mang tính định mệnh khi năm 1989, F.W. de Klerk lên làm Tổng thống Nam Phi. Và với tài thuyết phục của Nelson Mandela, chính F.W. de Klerk đã bãi bỏ lệnh cấm ANC hoạt động, mở ra một cục diện mới cho chính trị nước này. Và ngày 11/2/1990, Nelson Mandela đã được trả tự do sau 27 năm tù đày để trở về với nhân dân, tiếp tục lý tưởng ông đang theo đuổi và chinh phục thử thách mới: lấy sự tín nhiệm của cử tri trong cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên theo phương thức phổ thông đầu phiếu ở Nam Phi.

Không có gì hoàn toàn là trắng hay đen

Điều vĩ đại ở Nelson Mandela là sau khi ra tù, ông không làm kẻ báo thù mà chủ trương hàn gắn những chia cắt trong lòng đất nước bao năm và hòa hợp dân tộc bằng cuộc đấu tranh mới. Bằng những nỗ lực phi thường, triệt để không khoan nhượng, tháng 9/1992 ông và F.W. de Klerk đã cùng ký kết bị vong lục, bằng chứng về cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Mandela và nhân dân Nam Phi xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Lịch sử đất nước Nam Phi đã bước sang trang mới. Ngày 10/5/1994, Nelson Mandela trở thành người da đen đầu tiên nhậm chức Tổng thống Nam Phi. Khi đã có trọn vẹn quyền lực trong tay, với cách nghĩ khác hơn, một tầm nhìn nhân văn hơn, người tù năm nào đã đưa ra liệu pháp hóa giải hận thù trong lòng dân tộc có tên “Ủy ban chân lý và hòa giải”.

Khác với nhiều nhà lãnh đạo châu Phi có công lập quốc, Nelson Mandela không hề tham quyền cố vị. Ông từ bỏ chức vụ Tổng thống đầy quyền lực chỉ sau một nhiệm kỳ (1994 - 1999), với mong muốn về một châu Phi mới. Sau đó, ông trở thành đại sứ cấp cao nhất của Nam Phi và tiếp tục đấu tranh chống lại đại dịch HIV/AIDS cũng như giành quyền đăng cai World Cup năm 2010 cho nước mình. Nelson Mandela còn tham gia các cuộc thương lượng hòa bình ở Congo, Burundi, các nước khác ở châu Phi và trên thế giới.

Hành trình từ một tù nhân trở thành Tổng thống Nam Phi của Nelson Mandela càng tô đẹp thêm một niềm tin lớn lao rằng nhân loại và các nước trên thế giới có thể thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn. Công lao xóa bỏ chế độ Apartheid và hòa giải dân tộc là vĩ đại, nhưng lớn hơn tất cả, ông đã góp phần tích cực xây dựng nền móng cho nền dân chủ của đất nước Nam Phi. Với những đóng góp to lớn cho ổn định và hòa bình, Nelson Mandela đã nhận hơn 250 giải thưởng trong hơn 40 năm, trong đó có giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1993. Trong suốt khoảng thời gian chống chọi với bệnh tật, ông Nelson Mandela vẫn rất mạnh mẽ. Sẽ không ai ngạc nhiên về điều đó, vì người đàn ông trên giường bệnh kia chính là người đã cống hiến cả cuộc đời mình nhằm đưa đất nước chạm tới chế độ cộng hòa. “Khoảnh khắc trái tim ông ngừng đập cũng là lúc ông được giải thoát khỏi những đau đớn của bệnh tật”, Maki Mandela nhớ lại. “Con người ấy đã ra đi, nhưng là đi vào lịch sử của nhân loại và trở thành biểu tượng chống lại chế độ phân biệt chủng tộc”.

Cô Maki Mandela cho biết, một năm trước khi ông Nelson ra đi là quãng thời gian dài đằng đẵng mà cha cô phải chịu đựng quá trình lọc thận kết hợp với máy hỗ trợ thở để duy trì sự sống. Đối với một người con như cô, chẳng còn gì đau đớn hơn khi phải chứng kiến tình trạng người cha khổ sở chống chọi với bệnh tật. “Có những lần tôi phải nói với các bác sĩ về quá trình điều trị của cha tôi, như vậy là đủ rồi. Nhưng họ là bác sĩ, và họ có nhiệm vụ phải cố gắng làm mọi việc có thể cho tới giờ phút cuối cùng”, Maki Mandela hồi tưởng. Những hành động đội ngũ bác sĩ thực hiện, từ việc tiêm thuốc đến việc đưa thức ăn vào người ông đều mang một thái độ trân trọng và thành kính. Hơn hết thảy, họ luôn ấp ủ những hy vọng về một điều kỳ diệu dẫu biết nó không thể xảy ra.

Theo di nguyện cuối cùng, Nelson Mandela được chôn cất trên một nông trại ở Qunu, vùng nông thôn hẻo lánh ở tỉnh Cape Town của Nam Phi, nơi gắn liền với thời thơ ấu của ông. Lễ tang diễn ra dưới chân những ngọn đồi mà “cậu bé” Nelson từng rong chơi khi còn nhỏ. Theo truyền thống, ông Nelson Mandela được đặt lên một tấm thảm sậy trên sàn của ngôi mộ, để ông có thể yên nghỉ giống như những vị tổ tiên của bộ tộc. Gia đình gọi nơi an nghỉ vĩnh hằng này là “Ngôi nhà lớn” và Nelson Mandela sẽ không bao giờ cô đơn khi mọi người vẫn luôn nghĩ về ông.

Trong một thế giới đầy rẫy chiến tranh, nghèo đói và áp bức, với lương tâm của mình Nelson Mandela đã chiến đấu để khắc phục những điều gây tranh cãi nhất. Trong suốt hành trình đấu tranh đạo đức và chính trị ấy, ông luôn giữ vững quyết tâm sắt đá, tinh thần kỷ luật và sự điềm tĩnh. Trên môi ông luôn nở nụ cười đầy sức lôi cuốn, tượng trưng cho sự chiến thắng của tự do và công lý, cho đến tận ngày ông ra đi. Cuộc đời của ông bắt đầu từ lý tưởng đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng người da đen, với câu nói còn mãi với mọi thế hệ: “Việc đấu tranh là cuộc sống của tôi. Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì tự do cho tới ngày mình không còn nữa!”

Theo NGUYỄN LÊ MI - ĐỖ HƯƠNG (Cand.com.vn)