Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực hiện thắng lợi công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2015

14/10/2015 - 06:00
A A

(AGO) - Cải cách hành chính Nhà nước của tỉnh An Giang là nhiệm vụ của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền ở tỉnh An Giang, trực tiếp là UBND các cấp, có sự tham gia của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp tiến hành sửa đổi lại hệ thống hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh, trên các mặt thể chế, tổ chức bộ máy hành chính, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và tài chính công, để làm cho các cơ quan hành chính Nhà nước trong tỉnh hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ Nhân dân, phục vụ yêu cầu phát triển của tỉnh tốt hơn trong tình hình mới.

Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh giai đoạn 2011-2015 bình quân đạt 8,63%, giá trị tuyệt đối tăng thêm 8.640 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, khu vực dịch vụ chiếm 60,29% tỷ trọng nền kinh tế, khu vực nông nghiệp 27,11%, khu vực công nghiệp - xây dựng 12,60%, GDP bình quân đầu người đạt trên 39 triệu đồng, tăng trên 17 triệu đồng so với năm 2010. Kinh tế biên giới phát triển mạnh, đứng đầu về kim ngạch xuất nhập khẩu trong 10 tỉnh giáp Campuchia. Các lĩnh vực văn hóa-xã hội, xây dựng chính quyền, quốc phòng-an ninh và trật tự an toàn xã hội, an sinh xã hội... phát triển toàn diện và bền vững.

Đạt được những thành tựu trên, Tỉnh ủy An Giang đã lãnh đạo các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp quyết liệt triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong đó, Chương trình cải cách hành chính của tỉnh giai đoạn 2011-2015 được xác định là một trong sáu chương trình trọng điểm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần IX. Trong 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và quản lý điều hành, tổ chức thực hiện của các cấp chính quyền, công tác cải cách hành chính đạt nhiều kết quả tốt, các lĩnh vực quan trọng, những vấn đề đang được quan tâm, những vấn đề mang tính bức xúc đều chuyển biến tích cực, hoạt động của chính quyền các cấp đi vào nền nếp, đúng quy định của pháp luật, khắc phục lối làm việc tùy tiện, tác phong làm việc của cán bộ, công chức văn minh hơn, biết tiếp thu và tôn trọng ý kiến Nhân dân, ý thức kỷ luật tốt hơn. Cụ thể:

- Về cải cách thể chế: Để quản lý và phát triển toàn diện, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành 316 văn bản quy phạm pháp luật, gồm: 65 nghị quyết, 189 quyết định, 62 chỉ thị. Trong đó có 246 văn bản liên quan đến cải cách hành chính trên các lĩnh vực. Tiến hành rà soát, hệ thống thời gian ban hành và thứ bậc giá trị pháp lý 1.992 văn bản; kiểm tra 220 văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật, phát hiện và đề xuất xử lý 17 văn bản. Ban hành Quy định công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật nhằm đảm bảo thực thi nguyên tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.

- Về cải cách thủ tục hành chính: Sau 58 lần cập nhật, công bố lại (từ 2009), hiện nay tỉnh có 21 Bộ thủ tục hành chính (19 bộ thủ tục hành chính sở, ngành; 1 bộ thủ tục hành chính cấp huyện và 1 bộ thủ tục hành chính cấp xã), với tổng số là 1.715 thủ tục hành chính đã được nhập vào cơ sở dữ liệu quốc gia và được niêm yết tại cơ quan hành chính Nhà nước. Tiếp nhận và xử lý 186 phản ánh, kiến nghị liên quan đến thủ tục hành chính. Các cơ quan hành chính từ tỉnh đến xã đều đã thành lập Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả; UBND tỉnh đã triển khai 2 đề án đầu tư trang thiết bị cho Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của UBND cấp huyện và UBND cấp xã; chuẩn bị triển khai Đề án thành lập Trung tâm Tiếp nhận và Trả kết quả cấp tỉnh. Đồng thời, ban hành quy chế phối hợp thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” ở một số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan, địa phương, như: Thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thuế, đăng ký mẫu dấu đối với doanh nghiệp thành lập trên địa bàn; thủ tục đầu tư; cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đủ điều kiện đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài; đăng ký nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài; đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài...

- Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước: Tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức, ban hành quy chế làm việc nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành theo Nghị định 13/2008/NĐ-CP và Nghị định 24/2014/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, Nghị định 14/2008/NĐ-CP và Nghị định 37/2014/NĐ-CP về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn cấp tỉnh trên cơ sở quy định, hướng dẫn của Trung ương; thành lập 51 tổ chức; kiện toàn tổ chức bộ máy 22 cơ quan, đơn vị.

- Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: Thực hiện Đề án vị trí việc làm theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18-10-2012 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay tỉnh đã hoàn thành và báo cáo Bộ Nội vụ theo quy định. Trong 5 năm đã tuyển dụng 335/577 chỉ tiêu cần tuyển để bổ sung nhân lực cho cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, huyện; xét tuyển 2.119 chỉ tiêu viên chức bổ sung cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Cử 148 cán bộ, công chức dự thi nâng ngạch chuyên viên chính và 12 cán bộ, công chức dự thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp, kết quả có 50 người trúng tuyển chuyên viên chính và 8 người trúng tuyển chuyên viên cao cấp. Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 75 trường hợp. Trong đó, các chức danh Giám đốc, Phó Giám đốc Sở và tương đương là 63 người. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng trong nước là 131.596 lượt; đào tạo, bồi dưỡng ngoài nước là 263 lượt, trong đó đào tạo sau đại học là 50 người (28 tiến sĩ, 22 thạc sĩ). Qua 5 năm đã thu hút, khuyến khích được 343 người có trình độ sau đại học, cụ thể như sau: Thu hút 14 người (13 thạc sĩ và 1 chuyên khoa I); khuyến khích người có trình độ sau đại học: 329 người (16 tiến sĩ, 213 thạc sĩ, 94 chuyên khoa I và 6 chuyên khoa II).

- Về cải cách tài chính công: Toàn tỉnh có 253 đơn vị thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP, đạt 100%. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động sử dụng biên chế, kinh phí được giao, sử dụng tài sản tiết kiệm, hiệu quả; xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, công khai đến cán bộ, công chức trong cơ quan; 957 đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, đạt 100%. Các đơn vị đã chủ động điều hành, quản lý chi tiêu tài chính, kiểm soát chi tiêu nội bộ; công khai, minh bạch, sắp xếp tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả.

- Về hiện đại hóa hành chính: Mạng truyền số liệu chuyên dùng của cơ quan Đảng và Nhà nước đã được đưa vào sử dụng tại 20 sở, ngành và các huyện, thị xã, thành phố. Tỷ lệ trung bình máy tính/cán bộ, công chức đạt trên 90%. Triển khai phần mềm quản lý văn bản và chỉ đạo điều hành trên môi trường mạng trong cơ quan Nhà nước, vận hành phần mềm Văn phòng điện tử, đảm bảo việc gửi, nhận văn bản liên thông trên địa bàn. Đầu tư xây dựng 13 hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến tại UBND tỉnh và huyện, hệ thống này đã giúp tiết kiệm chí phí và thời gian đi lại, lưu trú, nhiều người tham dự và phát huy ý kiến tập thể. Tỉnh cũng đã triển khai ứng dụng chữ ký số trong cơ quan Nhà nước; các cơ quan, đơn vị cũng ứng dụng nhiều phần mềm quản lý chuyên dùng, như: Phần mềm báo cáo tiến độ dự án, phần mềm kế toán, phần mềm quản lý đề tài khoa học, phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu chuyên ngành… Các cổng thông tin điện tử cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 1 và 2, có 208 thủ tục hành chính thực hiện ở mức độ 3. Toàn tỉnh có 45/45 cơ quan hành chính áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008. Đối với cơ quan thuộc đối tượng khuyến khích áp dụng là 29 UBND cấp xã hiện đã có 27 địa phương áp dụng.

(Còn tiếp) 

TRÌNH LAM SINH (Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh An Giang)