Những định hướng trong công tác giảm nghèo

25/05/2016 - 01:00
A A

(AGO) - Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về công tác giảm nghèo và an sinh xã hội giai đoạn 2011-2015, An Giang đã có nhiều bước tiến rõ rệt trong công tác giảm nghèo và chăm lo đời sống người dân. Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, cũng còn nhiều vấn đề nan giải đang được đặt ra trong công tác giảm nghèo bền vững.

71-t3.jpg

Cần huy động nguồn hỗ trợ trong xã hội cho hộ nghèo và đối tượng yếu thế

Nếu đầu năm 2011, số hộ nghèo (HN) của tỉnh là 48.622 hộ, chiếm 9,28% dân số thì đến cuối năm 2015, số HN đã giảm còn 13.500 hộ, chiếm 2,5%. Đó chính là sự nỗ lực chung của các ngành, các cấp trong việc triển khai những mô hình giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội đến với người dân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tuy tỉ lệ hộ thoát nghèo hàng năm đạt chỉ tiêu đề ra nhưng số hộ phát sinh nghèo mới vẫn còn khá cao, đa số hộ thoát nghèo còn thuộc cận nghèo. Kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, tỉ lệ HN trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao (13,45%), tốc độ giảm nghèo không đồng đều, một số nơi tỉ lệ giảm còn chậm.

Là một trong những huyện có số hộ nghèo đông trong tỉnh(chỉ sau huyện Tri Tôn và Tịnh Biên), đến nay huyện An Phú vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong công tác giảm nghèo. Đó chính là đời sống của bộ phận lao động nghèo và cận nghèo bấp bênh, dễ bị tổn thương khi có những yếu tố tác động của thị trường như giá lúa, giá cá giảm. Đa số các HN đông con, không nghề nghiệp, không vốn liếng; một số bám trụ trông chờ, ỷ lại vào các chính sách giảm nghèo; một số khác rời bỏ làng quê đi Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh làm công nhân. Mặc dù địa phương đã tích cực tuyên truyền, mở các lớp dạy nghề nhưng các lớp học không tạo được sức hút và khi học xong, các việc làm tại chỗ (nông nghiệp và phi nông nghiệp) cũng không ổn định.

Đó cũng là tình trạng chung của nhiều địa phương khác trong tỉnh, vì các chính sách an sinh xã hội dù tốt đến đâu vẫn chỉ giải quyết được nhu cầu của HN trong thời gian ngắn, còn giải pháp căn cơ nhất vẫn là vấn đề tạo việc làm cho HN. 5 năm qua, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã triển khai 47 mô hình giảm nghèo, với 1.515 HN và cận nghèo tham gia. Các mô hình, như: Nuôi gà, nuôi lươn, nuôi rắn hổ hèo, đan lát, làm mộc, trồng nấm rơm, may công nghiệp… đã mang lại thu nhập cho người nghèo. Với nguồn hỗ trợ từ Ngân hàng Chính sách xã hội, nhiều hộ đã có thể xoay vòng vốn, áp dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, tiết kiệm chi tiêu và vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc nuôi trồng nhỏ lẻ, không có sự định hướng cụ thể theo quy luật thị trường đã dẫn đến nhiều hộ làm ăn thua lỗ, HN không có khả năng hoàn lại số tiền vốn hỗ trợ hoặc sử dụng nguồn vốn sai mục đích. Theo Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, đến nay còn 72 tỉ đồng hỗ trợ người nghèo vẫn chưa được hoàn lại.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình cho rằng, nếu chỉ thực hiện chính sách an sinh xã hội và các mô hình giảm nghèo, mà không có hướng đi cụ thể cho người nghèo thì việc giảm nghèo cũng giống như trò chơi dân gian leo cột mỡ, chẳng bao lâu người nghèo lại tụt xuống sàn. Do vậy, các cấp, ngành cần xem lại các giải pháp giảm nghèo. Với số HN giảm nhưng HN mới phát sinh cao chứng tỏ ý thức vươn lên thoát nghèo của người nghèo không cao, một số hộ thích hưởng thụ, trông chờ, ỷ lại nên cần cân nhắc khi hỗ trợ. Do đó, ưu tiên cho HN chí thú làm ăn trước và xử lý các tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn vốn không đúng mục đích, không đúng đối tượng. Với HN không có sức lao động (chiếm 5-10% trong danh sách HN), cần đưa ra khỏi danh sách giảm nghèo, thay vào đó là các chương trình trợ giúp xã hội. Bên cạnh đó, cần rà soát lại những chính sách an sinh xã hội chồng chéo để đề xuất Trung ương giảm bỏ, ổn định cán bộ làm công tác giảm nghèo, nâng cao năng lực tuyên truyền, vận động của cán bộ để người nghèo nâng cao ý thức, thực hiện hiệu quả các mô hình hỗ trợ. Các huyện, thị cần đào tạo nghề gắn với việc làm địa phương, tránh lãng phí chi phí đào tạo và thời gian của người học. Còn về mặt vĩ mô, cần có sự chuyển dịch cơ cấu thị trường lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy các ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; thay đổi cách sở hữu nông nghiệp manh mún thành sản xuất theo “Cánh đồng mẫu lớn”, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao sẽ góp phần phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân. Đồng thời, cần thay đổi tư duy của người lao động, thu hút người lao động làm việc tại địa phương, tại các khu công nghiệp trong tỉnh với chính sách ưu đãi như làm việc tại các khu công nghiệp Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh… Có như vậy, An Giang mới có thể giữ chân người lao động và thực hiện được mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2016-2020.                                 

Bài, ảnh: TRÚC PHA