Phát triển đàn bò trong bối cảnh cạnh tranh

15/07/2016 - 01:01
A A

 

(AGO) - Ưu tiên phát triển các giống bò hướng thịt có năng suất cao, chất lượng thịt tốt, chăn nuôi theo nhu cầu thị trường, tập trung vào quy mô trang trại, phát triển nguồn thức ăn để giảm giá thành… là những giải pháp đặt ra nhằm giúp sản phẩm bò nuôi trên địa bàn tỉnh đủ sức cạnh tranh với bò thịt ngoại nhập. Trong đó, vai trò tham gia của doanh nghiệp và thương lái lớn là không thể thiếu nhằm xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ cho ngành hàng bò thịt.

t4a.jpg
 
Một con bê lai vừa được sinh ra từ gieo tinh nhân tạo ở trang trại bò SD (Tri Tôn)
 
t4.jpg
 
Phát triển đàn bò thịt theo hướng nâng chất lượng
 
Nhiều khó khăn
 
Có thể thấy, sức ép cạnh tranh ngày càng đè nặng lên ngành chăn nuôi bò khi tổng đàn bò của tỉnh lần đầu tiên giảm sau nhiều năm tăng đều đặn. Thời điểm 1-4-2016, toàn tỉnh có 103.709 con bò, giảm 6.185 con so cùng kỳ. Trong khi đó, cũng tại thời điểm 1-4-2015, tổng đàn bò của tỉnh có 109.894 con, tăng 14.263 con so cùng kỳ 1-4-2014. Tính chung giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng của đàn bò 0,42%/năm (từ 74.051 con lên 75.317 con), đến giai đoạn 2010-2015, tốc độ phát triển đạt 7,78%/năm (từ 75.317 con lên 110.000 con).
 
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, dù tổng đàn bò của tỉnh tăng về số lượng, phát triển dần đàn bò lai hướng thịt nhưng ngành chăn nuôi hiện nay không còn hiệu quả cao như trước. Cùng với giá con giống ngày càng tăng, người chăn nuôi lại chưa chủ động về thức ăn, chủ yếu cho bò ăn theo mùa: Mùa thu hoạch rau màu, bắp, lúa thì nguồn thức ăn phong phú, các giai đoạn còn lại thì phải cho bò ăn rơm khô, cỏ dại. Do đó, chất lượng đàn bò không ổn định, chưa tạo được uy tín, thương hiệu cho bò thịt An Giang. Do phương thức nuôi này mà thời gian nuôi thường kéo dài, bò đến tháng giết thịt vẫn chưa đủ trọng lượng thích hợp, tỷ lệ thịt xẻ chưa cao. 
 
Dù phát triển đã lâu nhưng ngành chăn nuôi bò thịt của tỉnh vẫn tồn tại nhiều khó khăn muôn thuở. Đến nay, trên địa bàn vẫn chưa có cơ sở cung cấp bò giống đạt tiêu chuẩn chất lượng, trong khi nguồn cung cấp con giống bò thịt ngày càng khan hiếm, chất lượng không ổn định. Dù An Giang có nguồn cám gạo, bắp hạt, phụ phẩm nông nghiệp… rất dồi dào nhưng chưa được tận dụng hiệu quả để phối trộn thức ăn tinh giàu đạm bổ sung trong giai đoạn vỗ béo, thay thế cho thức ăn công nghiệp của các nhà máy do giá thành quá cao. Hiện nay, số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn còn chiếm trên 98%, trong khi thị trường tiêu thụ bò chủ yếu do thương lái thực hiện qua nhiều trung gian. Người chăn nuôi luôn bị ép giá nên lợi nhuận chưa tương xứng với giá trị sản phẩm làm ra. Về chất lượng sản phẩm, chủ yếu được đánh giá qua cảm quan của thương lái thu gom và người tiêu dùng, chưa có cơ sở đánh giá chất lượng sản phẩm bò thịt để xây dựng thương hiệu cho tỉnh
 
Cần nhiều nỗ lực
 
Thấy được những bất cập trên, thời gian qua, tỉnh đã áp dụng nhiều chương trình cải tạo giống bò thịt. Đến nay, tỷ lệ bò lai trên địa bàn tỉnh đạt 74,27%. Thực hiện chương trình gieo tinh nhân tạo để cải tạo giống bò thịt, 3 năm qua, có 1.050 con bò cái được gieo tinh nhân tạo. Các giống bò phổ biến hiện nay gồm bò lai Red Angus, lai Brahman trắng và Brahman đỏ, lai Sind, bò vàng. Ngoài ra, tại các trại chăn nuôi của các doanh nghiệp còn đầu tư bò đực giống Charolaise, Droughtmaster. Sắp tới, tỉnh sẽ phát triển lai tạo đàn bò theo hướng dùng tinh của các giống bò chuyên thịt như Limousin, Droughmaster, Red Angus, Brahman, Charolaise, BBB... để gieo tinh nhân tạo cho bò cái lai Zebu tại địa phương trong tỉnh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường, cạnh tranh với bò thịt ngoại nhập.
 
Cùng với phát triển giống bò lai, các trang trại, hộ nuôi còn phát triển diện tích trồng cỏ lên 2.289,6 héc-ta (năm 2013 chỉ có 394 héc-ta). Đồng thời, đầu tư khoảng 18 máy cuốn rơm, trên 300 máy băm cây thức ăn phục vụ trong chế biến thức ăn cho bò. Cuối năm 2014, Chi cục Thú y đã triển khai mô hình ứng dụng khẩu phần thức ăn tinh trong giai đoạn vỗ béo bò thịt. Hiện nay, mô hình này đang được người chăn nuôi tự nhân rộng tại địa phương, giúp mang lại hiệu quả cao so với các phương pháp chăn nuôi truyền thống như trước đây. Song song đó, tỉnh khuyến khích phát triển trồng cỏ VA06, cỏ voi...; chế biến phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò (rơm ủ ure, ủ chua thức ăn thô xanh); phối trộn thức ăn tinh vỗ béo bò 3 tháng cuối. Đồng thời, nhân rộng mô hình ứng dụng khẩu phần thức ăn tinh để vỗ béo cho bò thịt nhằm rút ngắn thời gian nuôi tại các địa phương.
 
Để tăng sức cạnh tranh trước bối cảnh hội nhập, tỉnh đã quy hoạch vùng sản xuất chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC). Dự kiến năm 2016 sẽ phát triển 10 trang trại, hộ chăn nuôi bò cái sinh sản, bò thịt ƯDCNC tại các huyện Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Tri Tôn. Đến năm 2020, sẽ phát triển 20 trại chăn nuôi bò tại các huyện Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Tri Tôn và Tịnh Biên. Bên cạnh phát triển đàn bò theo hướng chăn nuôi ƯDCNC (gieo tinh nhân tạo cho bò cái sinh sản, phối trộn thức ăn tinh vỗ béo cho bò thịt), tỉnh còn chú trọng xử lý môi trường (ứng dụng men vi sinh, biogas, ủ phân compost, nhà máy sản xuất phân vi sinh... để xử lý phân bò và chất thải trong chăn nuôi), xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch tái cơ cấu ngành chăn nuôi bò theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
 
Bài, ảnh: XUÂN LỘC