Tích tụ ruộng đất cho làm ăn lớn

08/11/2016 - 07:17
A A

(AGO) - Là địa phương có diện tích đất nông nghiệp (NN) rộng, thổ nhưỡng tốt nhưng lại phân bổ manh mún. Đây là một trong những cản trở lớn nhất khi triển khai các mô hình kinh tế hợp tác, vốn được xem là lời giải cho bài toán về giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, giá trị nhằm tăng sức cạnh tranh của nông sản trong bối cảnh hội nhập.

Kết quả chưa tương xứng

Trong tổng diện tích tự nhiên 353.668 héc-ta của An Giang, diện tích đất NN chiếm đến 84% (khoảng 298.560 héc-ta), chủ yếu là trồng lúa (254.448 héc-ta). Dĩ nhiên, số hộ sản xuất NN cũng tập trung khá đông (hiện nay là 326.741 hộ). Thực hiện công cuộc đổi mới, việc giao đất cho từng hộ dân góp phần vực dậy sản xuất, đưa An Giang trở thành “vựa lúa” của cả nước. Tuy nhiên, với việc tăng dân số, thì những tác động của chính sách hạn điền, đất đai ngày càng bị phân tán, manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn cho kinh tế hợp tác.

T1-1.jpg

Cần có cơ chế hỗ trợ tích tụ đất đai

Ông Trần Văn Cứng, Chủ tịch Liên minh hợp tác xã (HTX) tỉnh cho biết, trong số 152 HTX hiện tại trên địa bàn tỉnh, HTX NN vẫn chiếm chủ yếu (106 HTX, trong đó có 1 liên hiệp HTX). Doanh thu HTX NN lại đạt thấp (1,3 tỷ đồng/năm, trong khi doanh thu bình quân của các HTX là 4,5 tỷ đồng/năm).

Đến nay, mới chỉ có 81 HTX NN tổ chức lại sản xuất theo Luật HTX năm 2012, 10 HTX chưa tổ chức lại và 15 HTX ngừng hoạt động. So với tổng vốn điều lệ 45,5 tỷ đồng, tỷ lệ góp vốn mới đạt 84% (39,15 tỷ đồng). Nguyên nhân chủ yếu khiến nhiều HTX NN hoạt động chưa hiệu quả bởi đa phần các thành viên vẫn giữ thói quen canh tác riêng lẻ, khi thực hiện liên kết sản xuất - tiêu thụ với doanh nghiệp, tỷ lệ thu mua theo hợp đồng thường thấp.

Theo Liên minh HTX tỉnh, hiện nay, có 18 HTX thực hiện từ 4 dịch vụ trở lên, 26 HTX có 2 - 3 dịch vụ, còn lại 44 HTX chỉ hoạt động 1 dịch vụ. Điều này cũng dễ hiểu vì sao lợi nhuận bình quân của HTX NN chỉ đạt 162 triệu đồng/năm, thu nhập bình quân lao động thường xuyên 20 triệu đồng/năm (khoảng 1,8 triệu đồng/tháng), thấp hơn mức bình quân của lao động nông thôn.

“Nhìn chung, chất lượng chuyển đổi các loại hình HTX trong tỉnh chưa cao, chủ yếu là mới chuyển đổi trên danh nghĩa, hình thức. Đối với HTX lĩnh vực NN, còn chậm phát triển, chậm mở rộng thêm dịch vụ, chưa vận động được nhiều nông dân tham gia” - ông Cứng nhận xét.

Tìm cơ chế thoáng

Nhận thấy việc tích tụ ruộng đất là yêu cầu bức thiết nhằm tiến tới tổ chức sản xuất lớn, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành các chương trình và kế hoạch để tập trung thực hiện nhiều vấn đề thuộc trách nhiệm của địa phương, nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 31-10-2012 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Trên quan điểm của Nghị quyết số 19-NQ/TW, Luật Đất đai năm 2013 đã có một số điều chỉnh tạo thuận lợi cho tích tụ ruộng đất, như: Tăng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) lên gấp 10 lần hạn mức giao đất, tương đương 150 héc-ta/hộ; thời hạn giao đất được nâng từ 20 lên 50 năm.

Trong khi đó, các quyền dân sự về đất đai tiếp tục được đảm bảo, tạo điều kiện tốt để chuyển QSDĐ. Những thay đổi này cùng với chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (Nghị định 210 của Chính phủ), nỗ lực cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của An Giang đạt 98% đã tạo điều kiện thuận lợi về vốn và thị trường để hỗ trợ tích tụ, tập trung đất đai.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Quang Thi, trong 5 năm qua, số hộ có quy mô diện tích từ 5 - 10 héc-ta đã tăng hơn gấp đôi (từ 895 lên 2.030 hộ), quy mô diện tích từ 10 - 20 héc-ta đã tăng từ 72 lên 251 hộ, quy mô diện tích từ 20 - 30 héc-ta đã tăng từ 12 lên 42 hộ. Tuy nhiên, nếu tích tụ quy mô “Cánh đồng lớn” (diện tích từ 30 – 50 héc-ta) thì quá trình tích tụ còn rất chậm, tích tụ đất đai rõ ràng còn thiếu các chính sách động lực.

Để tháo gỡ khó khăn về tích tụ ruộng đất, tổ chức sản xuất lớn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở An Giang, Trung ương cần quy hoạch và đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật giao thông, thủy lợi có tính chất vùng. Đây là cơ sở để tính toán quy hoạch đất đai và là cơ chế để phân khai chỉ tiêu đất lúa cho các tỉnh, xác định cơ cấu kinh tế cho từng tỉnh. Đồng thời, rà soát lại toàn bộ chính sách, trong đó có chính sách đất đai đặc thù, để nông dân thấy được lợi ích khi thực hiện liên kết, chủ động tham gia các mô hình.

Cần tháo gỡ cơ chế ràng buộc đất lúa, rà soát lại chính sách tài chính, hoàn thiện cơ chế tạo quỹ đất, cơ chế Nhà nước quyết định giá đất, chính sách thu hồi, bồi thường để tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư các lĩnh vực khác ngoài nông nghiệp. Điều chỉnh các chế tài trong quản lý, sử dụng đất đai từ biện pháp hành chính sang biện pháp kinh tế, áp dụng các khoản thuế để chế tài sai phạm trong đầu cơ, chậm triển khai dự án.


NGÔ CHUẨN