“An Giang phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao” - Kỳ 1: “Chìa khóa vàng” phát triển nông nghiệp toàn diện

19/07/2016 - 01:03
A A

(AGO) - Xác định ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) vào sản xuất (SX), chế biến là “chìa khóa” xây dựng nền nông nghiệp (NN) phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, SX hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, ngày 27-6-2012, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết (NQ) số 09 về phát triển NNƯDCNC tỉnh An Giang giai đoạn 2012- 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Sau 4 năm triển khai thực hiện NQ đã đạt nhiều kết quả nổi bật, góp phần tăng năng suất, nâng cao chất lượng, giá trị, thương hiệu nông sản An Giang.

ghdfhjfdgjhyj.jpg
 
Mô hình trồng và chế biến cây dược liệu (chùm ngây, đinh lăng) ở huyện Châu Thành.
 
Chất lượng, hiệu quả
 
Theo Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Đinh Thị Việt Huỳnh, An Giang là một trong những địa phương “đi tắt, đón đầu” nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học- kỹ thuật và công nghệ trong SX, chọn tạo các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, hiệu quả và có triển vọng phát triển. Qua 4 năm triển khai thực hiện NQ 09, nhiều mô hình hiệu quả đã được nhân rộng ở nhiều địa phương trong tỉnh. Trong đó, có mô hình vườn ươm giống dược liệu; SX, chiết xuất tinh dầu trầm hương, trồng và chế biến bột huyền tinh, trồng cây đinh lăng, ngãi đen, dây thìa canh, cây chùm ngây. Nhờ áp dụng các tiến bộ KH&CN vào SX, nhiều mô hình SX đã mang lại hiệu quả, lợi nhuận cao cho nông dân. Điển hình, mô hình SX lúa Nhật đạt lợi nhuận 30-35 triệu đồng/héc-ta; SX lúa an toàn (không phun thuốc trừ sâu, bệnh) lợi nhuận tăng thêm 4,5 triệu đồng/héc-ta; trồng dưa lưới trong nhà lưới đạt lợi nhuận 500 triệu đồng/héc-ta; trồng rau, màu an toàn trong nhà màng đạt lợi nhuận từ 100- 400 triệu đồng/héc-ta… 
 
Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng ƯDCNC đã phát huy hiệu quả. Từ đó, nâng cao giá trị SXNN như: Mô hình lúa giống, lúa chất lượng cao, rau an toàn, hoa kiểng, cây dược liệu, nấm ăn- nấm dược liệu, cây ăn quả, chăn nuôi… Các mô hình dịch vụ và công nghệ SX liên quan đến cơ giới hóa, tự động hóa, phát triển hệ thống tưới tiết kiệm, nhà lưới, nhà màng, màng phủ… trong SXNN ngày càng tăng. Qua đó, giúp giảm tiêu hao nguyên, vật liệu, năng lượng đầu vào, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu… góp phần giảm chi phí SX, hạ giá thành sản phẩm và tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng, SX hiệu quả hơn, nhất là tăng thu nhập cho nông dân. Nông dân Hồ Tấn Phong (phường Châu Phú B, TP. Châu Đốc) chia sẻ: “Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ kết hợp trồng trọt trong nhà lưới giúp nông dân chủ động trong SX và không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu. Nhờ đó, giúp người SX tránh các rủi ro thời tiết, sâu bệnh. Từ đó, cho ra đời các nông sản có chất lượng cao, giá bán cũng cao hơn, năng suất trên một đơn vị đất đai sẽ tăng lên”.
 
sfsdfsdf.jpg
 
Mô hình trồng dưa lưới trong nhà lưới mang lại năng suất, lợi nhuận, chất lượng cao.
 
Hướng đi tất yếu
 
Việc khuyến khích các dự án chuỗi liên kết SX và tiêu thụ rau màu; chuỗi liên kết dọc cá tra “sản xuất- chế biến- xuất khẩu”; áp dụng các tiêu chuẩn trong SX thủy sản (ASC, Naturland, Viet GAP); SX lúa theo tiêu chuẩn GlobalGAP… đã góp phần nâng cao hiệu quả SX, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của nông sản, đáp ứng thị trường trong và ngoài nước. Một trong những mô hình thành công nhất trong việc ƯDCNC trong SXNN và khuyến khích liên kết SX là mô hình “cánh đồng lớn”. Đây là mô hình đã và đang khẳng định bước đi đúng hướng trong phát triển NN bền vững của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Trên địa bàn tỉnh hiện có gần 260.000 héc-ta diện tích SX lúa chất lượng cao gắn kết phát triển “cánh đồng lớn”, có ứng dụng chương trình “1 phải, 5 giảm”, “3 giảm, 3 tăng” và các tiến bộ KH&CN hiệu quả.
 
Theo bà Việt Huỳnh, khi áp dụng CNC vào SXNN sẽ hạn chế được sự lãng phí về tài nguyên đất, nước do tính ưu việt của các công nghệ này như: Công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ SX phân hữu cơ và tự động hóa SX. Nhờ đó, giúp tiết kiệm chi phí SX (nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), góp phần bảo vệ môi trường và tăng năng suất cây trồng vật nuôi, tạo sức cạnh tranh về giá, chất lượng, thương hiệu sản phẩm trên thị trường. Chính vì vậy, SXNN ƯDCNC đã và đang trở thành hình mẫu cho nền NN thế kỷ XXI, nhất là, trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập sâu rộng khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), với quy định gỡ bỏ hàng rào thuế quan về 0% theo lộ trình đối với các sản phẩm NN. Chính vì vậy, việc ƯDCNC vào SXNN là hướng đi đúng đắn để NN Việt Nam nói chung và An Giang nói riêng phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, có khả năng cạnh tranh…
 
NNƯDCNC là nền NN được áp dụng những công nghệ mới vào SX, gồm: Cơ giới hóa quá trình sản xuất, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học; các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ.
 
Bài, ảnh: THU THẢO
 
(Còn tiếp)
 
Kỳ 2: “Nút thắt” cản trở