Cẩn trọng khi chọn lựa nước tương

12/03/2015 - 06:00
A A

Hiện nay, nước tương được người tiêu dùng ưa chuộng vì sự tiện dụng: Có thể dùng trong chế biến thức ăn mặn lẫn chay. Chính vì thế, nhiều sản phẩm nước tương đã được tung ra thị trường, giúp người tiêu dùng thỏa sức chọn lựa. Tuy nhiên, điều mà người tiêu dùng băn khoăn là: Sản phẩm nào an toàn, đáp ứng đủ độ đạm (protein) cần thiết cho cơ thể?

57t5-1.jpg

Quy trình sản xuất nước tương thành phẩm ở một cơ sở

Chị Trần Mai Hoa (ngụ phường Mỹ Bình, TP. Long Xuyên) cho biết: “Từ trước đến giờ, tôi mua những sản phẩm nước tương được quảng cáo nhiều trên tivi, hoặc do người này, người kia truyền miệng là “Loại A,B,C… ngon”. Thú thật, tôi cũng không đánh giá được loại nào ngon, dở, vì đa số đều có hương vị giống nhau, nên mua loại nào cũng được. Còn về độ đạm, tôi cũng ít chú ý đến các thành phần sản xuất ghi trên bao bì. Một phần vì không hiểu rõ, phần khác lại thấy không quan trọng. Mỗi lần đi chợ hay siêu thị, tôi lấy vài chai bỏ vào giỏ rồi ra tính tiền, chứ đâu có thời gian đọc kỹ từng bao bì sản phẩm!”. Bà N.T.B (ngụ phường Mỹ Hòa) có tiệm kinh doanh thực phẩm, tiêu chí chọn nước tương hàng đầu của bà là: Rẻ. “Tôi thường mua số lượng lớn, nên phải cân nhắc giá cả. Mỗi loại nước tương xê xích nhau vài trăm đồng, nhiều chai thì chênh lệch dữ lắm. Thành ra, tôi chọn loại nào rẻ nhất, miễn loại đó vẫn có đủ nhãn mác để khách đừng thắc mắc là được. Nếu chọn loại có độ đạm hay gì gì đó cao, giá thành cao thì làm sao kinh doanh có lời?” – bà tính toán.

Thế nhưng, đây lại là vấn đề khá gay go đối với các cơ sở sản xuất nước tương. Ông Lê Văn Bàng, chủ cơ sở nước tương Hương Sen (phường Mỹ Hòa, TP. Long Xuyên) bức xúc: “Theo quy định tại điều 4.4 của bộ Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN 1763-2008) của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, nước tương phải có hàm lượng ni- tơ tổng số 0,4g/100ml. Quy đổi ra, tức tương đương với 25g/l protein. Cơ sở chúng tôi đã thực hiện đúng theo quy định. Tuy nhiên, rất nhiều loại nước tương có mặt trên thị trường (kể cả những loại nổi tiếng) chỉ có hàm lượng protein từ 9-19g/l, thấp hơn rất nhiều so với TCVN. Nói một cách nôm na, những sản phẩm ấy gần như là “nước muối có màu sắc và mùi vị của nước tương”. Trung bình, lượng đạm trong 1 chai nước tương ở cơ sở chúng tôi có thể bằng 3 chai của cơ sở khác. Dĩ nhiên, giá thành sản phẩm của họ cũng thấp hơn, dẫn đến tình trạng: Loại nước tương nào thực hiện theo TCVN thì khó cạnh tranh nổi trên thị trường”. Do đó, để thu hút khách hàng, các cơ sở sản xuất chân chính phải tìm “chiêu” khác. Ông Mai Tứ Hải, chủ Cơ sở thực phẩm Miền Tây (phường Mỹ Hòa) cho biết: “Cơ sở chúng tôi sản xuất nước tương từ năm 1979, nhiều năm được bình chọn là doanh nghiệp tiêu biểu của tỉnh. Trong quá trình sản xuất, nhiều loại nước tương chúng tôi sản xuất theo quy định Nhà nước, lấy chữ “tâm” làm đầu, để mang đến cho người tiêu dùng sản phẩm an toàn, vệ sinh và hương vị thơm ngon. Chỉ có cách đó mới có thể thu hút khách hàng, cạnh tranh lành mạnh trên thị trường”.

Trao đổi với phóng viên Báo An Giang, bác sĩ CKII Nguyễn Chí Công, Chi cục trưởng Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm An Giang thông tin: “Trước đây, chúng tôi có nhận đơn phản ánh của ông Bàng về vấn đề trên. Ngày 10-12-2014, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm An Giang gửi công văn đề nghị hướng dẫn cấp công bố phù hợp quy định cho nước tương có hàm lượng protein dưới 25g/l. Ngay sau đó, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) phản hồi: Các chỉ tiêu kỹ thuật quy định tại TCVN là không bắt buộc áp dụng để công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm. Riêng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) bắt buộc áp dụng. Doanh nghiệp phải kê khai đầy đủ các chỉ tiêu phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Tuy nhiên, sản phẩm nước tương chưa có QCVN nên doanh nghiệp phải kê khai các chỉ tiêu vệ sinh an toàn phù hợp với các quy định hiện hành. Các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu do doanh nghiệp tự công bố và phải ghi nhãn theo quy định để người tiêu dùng lựa chọn. Tại An Giang, chúng tôi thường xuyên kiểm tra, thanh tra tại các cơ sở sản xuất nước tương và sản phẩm tung ra thị trường, để xác định cơ sở có thực hiện việc sản xuất theo đúng hồ sơ công bố hợp quy trên bao bì, việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Khi có sai sót trong các khâu này, chúng tôi mới có thể áp dụng biện pháp xử lý theo quy định”.

Cũng theo bác sĩ Công, ở một khía cạnh khác, nếu sản phẩm nước tương có độ đạm càng cao, người tiêu dùng càng có lợi. Nhưng nếu độ đạm thấp, sản phẩm ấy sẽ khó tiêu thụ được, dẫn đến bị người tiêu dùng tẩy chay, mặc dù sản phẩm ấy không hề vi phạm quy định chung. “Chính vì thế, người tiêu dùng nên xem kỹ hàm lượng đạm công bố trên bao bì sản phẩm, tùy theo nhu cầu dinh dưỡng và sở thích cá nhân mà chọn lựa sản phẩm phù hợp. Ví dụ, người bình thường có thể chọn loại có độ đạm cao để cung cấp thêm protein cho mỗi bữa ăn. Đối với người béo phì có thể chọn loại có độ đạm thấp… Quan trọng nhất, hãy là một người tiêu dùng thông minh”– bác sĩ Công nhấn mạnh.

Bài, ảnh: KHÁNH HƯNG