Câu chuyện lúa mùa nổi

03/02/2017 - 01:03
A A

(AGO) - Đó là một câu chuyện dài, bắt đầu từ thuở cây lúa mùa nổi làm “trùm” ở ĐBSCL cho đến khi bị lúa cao sản ngắn ngày “xâm lấn”, diện tích cứ thu hẹp dần. Dù đã qua thời hoàng kim nhưng lúa mùa nổi vẫn có nhiều nông dân, nhà khoa học dành trọn tình yêu cho loại lúa đặc biệt này. Họ hy vọng, lúa mùa nổi sẽ “sống lại” theo một cách khác, chẳng những cung cấp cho con người loại thực phẩm an toàn, giá trị dinh dưỡng cao mà còn góp phần giải bài toán về biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học mùa nước nổi.

Tình yêu đặc biệt

Năm 2011, lũ bất ngờ dâng cao. Trái ngược với hình ảnh chống chọi lũ ở nhiều nơi, nông dân canh tác lúa mùa nổi ở 2 xã Vĩnh Phước và Lương An Trà (Tri Tôn) lại có được mùa bội thu khi lúa mùa nổi cho năng suất 15-16 giạ/công tầm cắt (khoảng 2,3 - 2,5 tấn/héc-ta). “Sướng nhất là gốc rạ dài hơn 3 mét, phủ dày lên mặt ruộng cả gang tay, giúp giữ ẩm và cung cấp hữu cơ cho đất nên hoa màu trồng trên nền rạ cũng trúng theo. Bà con phấn khởi lắm” - nông dân Nguyễn Văn Trống, canh tác 5 héc-ta lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Phước, chia sẻ.

Những năm sau đó, lũ cứ nhỏ dần, nông dân cũng mất mùa theo. Đặc biệt, năm 2015, lũ gần như không có, toàn bộ diện tích lúa mùa nổi ở Tri Tôn bị mất trắng. Tuy vậy, nhiều nông dân nơi đây nhất quyết gắn bó với cây lúa mùa nổi… Trời không phụ lòng người. Năm 2016, nhờ lũ muộn, nông dân canh tác lúa mùa nổi lại “có ăn”, ai cũng vui mừng. “Năm nay lũ nhỏ, lại về muộn nên năng suất lúa chỉ đạt khoảng 8 giạ/công (1,6 tấn/héc-ta). Bà con vui lắm vì thân lúa vẫn cho gốc rạ dài, trồng màu vẫn tốt. Vừa thu hoạch lúa xong là có doanh nghiệp vào thu mua lúa tươi giá 14.000 đồng/kg, gấp 3 lần lúa thường. Dứt điểm vụ lúa cũng vừa đến Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 nên bà con ăn Tết vui vẻ, phấn khởi. Qua Tết, tôi sẽ gieo cây mì giống xuống. Đến giữa năm, thu hoạch xong vụ mì lại xuống giống lúa mùa nổi là vừa” - nông dân Nguyễn Thanh Lạc, canh tác 1 héc-ta lúa mùa nổi ở ấp Vĩnh Thành (xã Vĩnh Phước), bộc bạch.

Lua-mua-noi-1.jpg

Thu hoạch lúa mùa nổi bằng tay

Đối với nông dân Trần Văn Man, canh tác 4 héc-ta lúa mùa nổi ở ấp Cây Gòn (xã Lương An Trà), dù năm 2016 xuất hiện lũ muộn nhưng niềm vui vẫn không trọn vẹn. “Do đất của tôi gò cao nên nước không ngập sâu lên ruộng, bị chuột cắn phá quá nên coi như không thu hoạch được gì, chủ yếu tận dụng gốc rạ trên mặt ruộng để trồng mì” - ông Man buồn buồn. Tuy vậy, lão nông gần như gắn bó cả đời với vùng đất Tri Tôn này khẳng định, sẽ không bao giờ từ bỏ lúa mùa nổi. “Giống lúa ấy đã nuôi sống từ ông bà, tổ tiên cho đến đời mình. Tôi luôn động viên con cháu tiếp tục bám cây lúa mùa nổi” - ông Man nhấn mạnh.

Cần sự thủy chung

Tại Ngày hội thu hoạch lúa mùa nổi truyền thống được tổ chức tại xã Vĩnh Phước, nhiều nông dân vốn quen với thuật ngữ dân dã miền quê bỗng chú ý những lời chia sẻ của nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị (bảy Nhị). Lúc đầu, người nông dân còn bỡ ngỡ với khái niệm “cạnh tranh lòng tin” nhưng họ nhanh chóng hiểu được bởi cách giải thích mộc mạc của một lãnh đạo từng gắn bó với nông nghiệp An Giang, đặc biệt là vùng đất phèn Tri Tôn. “Bà con thu hoạch lúa xong là có doanh nghiệp vào thu mua liền. Điều đó rất tốt. Tuy nhiên, để mần ăn lâu dài với nhau, doanh nghiệp và nông dân đều phải tôn trọng chữ tín, giữ niềm tin cho nhau. Người ta trả tiền mua lúa mình giá cao thì mình cũng phải sản xuất đàng hoàng, giữ đúng hợp đồng cam kết. Nếu mình làm ăn gian dối với người ta thì tội chết. Nhà nước bây giờ chỉ giữ vai trò kiến tạo, còn doanh nghiệp mới là người dạy nông dân làm thế nào. Bây giờ, để sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, việc xây dựng và cạnh tranh lòng tin rất quan trọng” - chú bảy Nhị nhắn gởi.

Lua-mua-noi-3.jpg

Đập lúa lấy hạt

Cũng tại ngày hội ấy, các đại biểu là nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp, du khách, nông dân đã hòa mình cùng nhau trong cái không khí ấm cúng, dân dã đúng chất miền quê xưa. Trong cái se se lạnh của tiết trời Đông chuyển sang Xuân, khung cảnh thu hoạch lúa mùa nổi khi xưa hiện ra. Đó là hình ảnh những người nông dân cắt lúa bằng tay, đập lúa vào bồ, chà lúa thủ công… Những hạt gạo còn thơm mùi lúa mới, không có một chút dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nào, được cho vào nồi đun trên bếp củi. Chiếc bếp cũng được đào dã chiến, kê 3 cục đá ngay cặp bờ đê. Nồi cháo nấu bằng gạo lúa mùa nổi sôi lên sùn sụt, tỏa hương thơm lừng. Hòa quyện vào đó là mùi cá lóc nướng trui bằng rơm lấy từ thân cây lúa mùa nổi. Người ta lại còn ngửi được mùi khô nướng, mùi gà hấp lá chanh, mùi cá trê đồng chiên tươi… tạo cảm giác thèm thuồng khó tả.

Buổi sáng, húp tô cháo nóng với khô đồng, nhâm nhi ly trà nóng giữa không khí mát mẻ của ruộng đồng. Trưa một chút, lai rai vài xị đế với món cá lóc nướng trui, cá trê chiên tươi chấm mắm me, gà luộc chấm muối ớt chanh, chẳng ai muốn bỏ về. “Nghe ba mẹ kể về không khí lúa mùa nổi khi xưa, em chỉ mường tượng chứ rất khó hình dung hết được. Phải tận mắt chứng kiến khung cảnh này mới cảm nhận rõ ràng về thú vui dân dã ngày xưa. Em nghĩ đây là tour du lịch hấp dẫn mà rất nhiều người muốn trải nghiệm” - Trần Tuấn Anh, sinh viên Trường đại học Khoa học - Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ.

Khai thác tiềm năng

Việc khai thác du lịch miền quê như gọi ý của Tuấn Anh là một trong những giải pháp giúp nâng cao thu nhập cho nông dân trong vùng lúa mùa nổi. Đó là câu chuyện dài hơi cần tính toán. Ở góc độ gần hơn, từ nhiều năm qua, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông thôn (NC&PTNT - Trường đại học An Giang) đã đẩy mạnh nghiên cứu về lúa mùa nổi, hỗ trợ nông dân duy trì, mở rộng diện tích canh tác loại lúa đặc biệt này. Theo TS. Nguyễn Văn Kiền, Giám đốc Trung tâm NC-PTNT, đặc điểm của cây lúa mùa nổi là thân dài, thích ứng tốt trong điều kiện ngập sâu. Mặc dù lúa mùa nổi cho năng suất thấp nhưng lợi nhuận lại cao bởi nông dân hầu như không phải bón phân, phun thuốc hay cực công chăm sóc. Với năng suất trên dưới 2 tấn/héc-ta, lúa được bao tiêu 14.000 - 15.000 đồng/kg, tính ra nông dân có lời hơn 20 triệu đồng/công, hiệu quả hơn lúa hè thu cao sản. “Vào mùa khô, một số cây màu trồng trên nền rạ lúa mùa nổi cho hiệu quả kinh tế rất cao. Trên diện tích 1.000m2, kiệu có thể cho lợi nhuận 24,3 triệu đồng, ớt đạt 16,5 triệu đồng, bí hồ lô khoảng 4,8 triệu đồng, còn khoai mì là 3,1 triệu đồng…” - TS. Kiền đánh giá.

Bên cạnh lợi ích kinh tế, lúa mùa nổi còn giúp tạo không gian để chứa nước lũ, giảm nguy cơ vỡ đê ở vùng lân cận. Do vậy, nếu giữ được diện tích lúa mùa nổi sẽ giúp địa phương ứng phó tốt với lũ lụt, đặc biệt là lũ lớn. “Đất trồng lúa mùa nổi có nguồn dinh dưỡng dồi dào nhờ vào bồi lắng phù sa từ lũ và chất hữu cơ phân hủy bởi quá trình ngập lâu dài, pH đất thường thấp (<4). Đặc biệt, trong số hơn 150 loài tảo có thế sống trong môi trường nước lũ, có 24 loài tảo lam (blue-green algae) có khả năng cố định đạm. Nhờ vậy, nông dân không cần bón phân cho ruộng lúa mùa nổi mà còn thu hoạch được các loại cá đồng vào trú ngụ tự nhiên. Cây lúa mùa nổi cũng tỏ ra thích ứng trong điều kiện biến đổi khí hậu và giúp bảo tồn nguồn gen quý, góp phần bảo tồn tính đa dạng sinh học của vùng ĐBSCL” - TS. Kiền phân tích.

Tại Ngày hội thu hoạch lúa mùa nổi lần III-2016, Trung tâm NC-PTNT đã tặng bộ giống lúa do trung tâm nghiên cứu cho các nông dân canh tác lúa mùa nổi ở Tri Tôn. Đó là tín hiệu vui cho hoạt động bảo tồn, phục hồi và phát triển cây lúa từng một thời giữ vai trò “soái ca” ở ĐBSCL.

So với gạo trắng thông thường, lúa mùa nổi có hàm lượng Vitamine E cao hơn gấp 5 lần, hàm lượng protein cũng cao hơn, các độc tố hầu như không có. Do không sử dụng phân, thuốc nên gạo lúa mùa nổi dù có giá bán 25.000 đồng/kg (cao hơn cả sóc Thái) vẫn không dễ mua.

Bài, ảnh: NGÔ CHUẨN