Dấu ấn của Tổng đốc Trương Minh Giảng

30/11/2017 - 01:00
A A

(AGO) - Là vị Tổng đốc vùng đất An-Hà thứ 2 sau Lê Đại Cương, Tổng đốc Trương Minh Giảng (TĐ TMG) là một vị tướng tài ba có nhiều cống hiến và dấn thân cho vùng đất biên viễn với nhiều công trạng hiển hách. Mới đây, Hội Khoa học lịch sử đã phát động các nhà nghiên cứu sử học trong và ngoài tỉnh nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn thân thế, cuộc đời và sự nghiệp, nhất là công lao to lớn của vị TĐ đối với quê hương An Giang.

Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Đặng Hoài Dũng cho biết: “Qua thời gian phát động, hội đã nhận được 46 bài viết và tuyển chọn được 36 bài viết có chất lượng, in thành kỷ yếu, tạo nên nguồn sử liệu phong phú với 2 nội dung chính về thân thế và sự nghiệp của TĐ TMG (21 bài viết), đánh giá công lao đóng góp của TMG đối với An Giang và Nam Bộ (15 bài). Đây là những tài liệu quý cần được ghi nhận và bổ sung vào kho tàng lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương để lưu truyền cho thế hệ hôm nay và mai sau. Đồng thời, là cơ sở để Hội Khoa học lịch sử tỉnh đề xuất cấp thẩm quyền có chủ trương đặt tên TMG cho những công trình công cộng, trường học, đường phố… trên địa bàn tỉnh, nhất là ở TP. Long Xuyên và TP. Châu Đốc”. 

67T3.jpg

Mộ của TĐ TMG tại TP. Hồ Chí Minh (ảnh sưu tầm)

Trước đây, các nguồn sử liệu không rõ năm sinh của TMG nhưng theo ông Trương Minh Ba, Trưởng tộc đời thứ 7 của dòng họ Trương, TMG sinh năm 1792 và mất năm 1841. Ông là người làng Hanh Thông, huyện Bình Dương, trấn Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh), là con của Thượng thư Trương Minh Thành. Ông được đánh giá là một công thần bậc nhất triều Nguyễn, vừa là một võ tướng tài ba, vừa là một sử gia, làm quan qua 3 đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Ông đỗ cử nhân năm 1819, được bổ chức Tư vụ, dần thăng tới Lang trung bộ Binh, rồi đổi sang bộ Hình. Năm 1832, ông cùng với Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực biên soạn Liệt Thánh Thực Lục. Cũng thời gian này, ông giữ chức Tổng tài Quốc sử quán, chủ trì việc biên soạn bộ Đại Nam thực lục chính biên.

Năm Quý Tỵ 1833, Lê Văn Khôi nổi loạn chiếm thành Gia Định. TMG được sung chức Tham tám quân vụ, cùng Thảo nghịch tướng quân Phan Văn Thúy đem quân vào dẹp loạn. Dựa vào thành cao hào sâu, quân Lê Văn Khôi cố thủ hữu hiệu, mãi 2 năm sau cuộc nổi loạn mới bị dập tắt, đồng thời đẩy lui quân Xiêm ra khỏi bờ cõi, đem lại bình an cho vùng đất từ Gia Định trở vào. Nhờ công lao đó, ông được phong hàm Đông các Đại học sĩ, kiêm chức Bảo hộ Cao Miên, Trấn Tây tướng quân kiêm TĐ An-Hà. Trong thời gian này, ông gặp phải nhiều sự phản kháng của người Chân Lạp và đối đầu thường xuyên với các tướng nước Xiêm. Tuy nhiên, với nghệ thuật quân sự tài ba, ông đã lập được 2 chiến công hiển hách qua 2 trận chiến trên sông Củ Hủ và Ca Lăng (1834), góp phần giúp vua Minh Mạng củng cố và xây dựng quốc gia Đại Nam.

Theo nghiên cứu của ThS. Phạm Thị Huệ (Trường Cao đẳng Cần Thơ), hầu như sự nghiệp của TMG đã gắn bó với An Giang ngay từ khi vùng đất Châu Đốc tân cương được mang danh xứng mới. Châu Đốc là địa bản doanh quân sự, nơi hoạch định các kế sách phát triển kinh tế và bảo vệ vùng đất thuộc 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), vua cho đạc điền lập địa bạ cả Nam kỳ lục tỉnh. Địa bạ An Giang lần đầu tiên được xác lập, ghi nhận lúc bấy giờ tỉnh ta có 2 phủ, 4 huyện, 18 tổng, 167 làng. Đời sống người dân lấy nông nghiệp làm gốc, với số lượng đất khai hoang tăng từ 400 mẫu (1836) lên 3.000 mẫu (1839). Ngoài ra, ông còn hướng dẫn người dân biết dùng trâu, bò làm sức kéo, trồng dâu, dệt vải, nuôi gia súc, gia cầm làm thức ăn, miễn thuế 3 năm để người dân vùng biên giới phấn khởi sản xuất, tăng cường tình đoàn kết, tạo điều kiện cho các dân tộc Chăm, Hoa, Khmer làm ăn, kiến nghiệp. Đồng thời, tăng cường trấn áp phản nghịch, bố trí quốc phòng, thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với 2 nước Xiêm và Chân Lạp.

Với những công lao trấn giữ Trấn Tây Thành, tháng 11-1838, vua Minh Mạng cho dựng bia Võ công. TMG được xếp đứng đầu trong 20 vị có công, khắc tên vào bia, đá đặt ở Võ miếu (Huế). Thế nhưng, đến năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi, nghe lời bàn của các quan lại đã cho lệnh từ bỏ Trấn Tây thành (Phnom Penh ngày nay) rút quân về trấn thủ An Giang. Triều đình cho rằng, ông không làm tròn bổn phận, không dẹp yên nổi loạn, hao tốn tiền bạc. Do vậy, TMG thấy quá hổ thẹn, ông uất ức, bệnh mà qua đời tại An Giang vào tháng 9 năm Tân Sửu 1841. Mộ phần của ông và cả gia tộc ở thôn Hanh Thông, Gò Vấp xưa (nay thuộc phường 7, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh). Trước năm 1975, ở Sài Gòn có con đường mang tên TMG, sau đổi thành Lê Văn Sỹ. Chỉ ở Đà Nẵng vẫn còn con đường mang tên vị TĐ cho đến ngày nay.

Bài, ảnh: NGỌC GIANG