Sinh ra trên vùng cù lao giữa dòng Hậu Giang, từ một người thợ máy yêu nước, Bác Tôn trở thành người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo mẫu mực, người kế tục Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị Chủ tịch nước và là biểu tượng tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cuộc đời hơn chín mươi năm của Người là bản trường ca về lòng yêu nước, đức hy sinh và sự tận tụy vì Nhân dân

Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Buổi sớm trên cù lao Ông Hổ luôn bắt đầu bằng sự bình yên.

Mặt nước Hậu Giang lặng lẽ trôi. Những vườn cây xanh mướt nối tiếp nhau. Tiếng chim ríu rít hòa cùng nhịp sống của người dân vùng sông nước.

Giữa không gian ấy, Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng vẫn lặng lẽ đón những đoàn khách từ khắp mọi miền đất nước. Có người đến để tìm hiểu lịch sử. Có người đến để tri ân. Có người chỉ muốn tận mắt nhìn ngôi nhà đơn sơ nơi một người con của An Giang cất tiếng khóc chào đời cách đây hơn một thế kỷ.

Ngày 20 tháng 8 năm 1888, tại làng An Hòa, tổng Định Thành Hạ, hạt Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang, cậu bé Tôn Đức Thắng sinh ra trong một gia đình nông dân cần cù, chất phác. Không ai khi ấy có thể hình dung rằng, từ mảnh đất nhỏ bé giữa dòng sông này sẽ trưởng thành một con người dành trọn hơn sáu mươi năm cho sự nghiệp cách mạng, trở thành một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của đất nước.

Quê hương đã nuôi dưỡng ở cậu bé ấy những phẩm chất đầu tiên. Đó là sự chân thành của người Nam Bộ. Là tính cần cù của người lao động. Là lòng nghĩa khí của vùng đất từng ghi dấu nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân.

Những câu chuyện về Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương hay Nguyễn Hữu Huân đã gieo vào tâm hồn cậu học trò nhỏ khát vọng sống có ích cho đất nước. Những hạt giống ấy lặng lẽ lớn lên cùng năm tháng để rồi sau này trở thành lý tưởng suốt đời không thay đổi.

Vùng sông nước An Giang hiền hòa nuôi dưỡng tuổi thơ Bác Tôn.

Vùng sông nước An Giang hiền hòa nuôi dưỡng tuổi thơ Bác Tôn.

Trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Năm 1907, chàng trai Tôn Đức Thắng rời quê lên Sài Gòn. Không phải để tìm kiếm một cuộc sống an nhàn, mà để học nghề. Đó là lựa chọn của một thanh niên luôn muốn tự mình lao động, tự mình làm chủ cuộc đời.

Ở Sài Gòn, vốn thông minh, ham học hỏi và có năng khiếu về kỹ thuật, Tôn Đức Thắng nhanh chóng trở thành một người thợ lành nghề. Nhưng điều quan trọng hơn cả là chính môi trường lao động đã giúp ông nhận ra những bất công mà người công nhân đang phải gánh chịu dưới ách thống trị của thực dân.

Từ người lao động, ông trở thành người đứng về phía người lao động.

Những cuộc vận động học sinh lính thủy bãi khóa, những cuộc đấu tranh đòi tăng lương, phản đối áp bức của giới chủ, rồi phong trào bãi công của công nhân Ba Son… đều ghi dấu sự tham gia tích cực của Tôn Đức Thắng từ những năm đầu thế kỷ XX. Đó không chỉ là những cuộc đấu tranh vì quyền lợi trước mắt, mà còn là quá trình hun đúc bản lĩnh của một người chiến sĩ cách mạng tương lai.

Có lẽ chính trong những xưởng cơ khí đầy khói bụi ấy, ông đã tìm thấy con đường của mình. Không phải con đường danh vọng. Cũng không phải con đường quyền lực. Đó là con đường đồng hành cùng những người cùng khổ. Con đường đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của bản thân.

Sau này, khi nhìn lại cuộc đời Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nhiều người nhớ đến cương vị Chủ tịch nước, nhớ đến hình ảnh vị lãnh đạo mẫu mực của đất nước.

Nhưng trước tất cả những điều ấy, Bác Tôn là một người công nhân. Một người thợ máy hiểu giá trị của lao động. Hiểu sức mạnh của đoàn kết. Và hiểu rằng, chỉ khi người lao động đứng cùng nhau, họ mới có thể thay đổi số phận của chính mình.

Đó cũng là nền tảng để sau này ông sáng lập Công hội bí mật – tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam, đặt nền móng cho phong trào công nhân có tổ chức và góp phần quan trọng vào quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta.

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Đầu thế kỷ XX, Sài Gòn là một đô thị đang chuyển mình dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Những công trình mọc lên, nhà máy hoạt động ngày đêm, kéo theo sự hình thành của một đội ngũ công nhân ngày càng đông đảo. Nhưng phía sau nhịp phát triển ấy là cuộc sống nhọc nhằn của những người lao động với đồng lương ít ỏi, điều kiện làm việc khắc nghiệt và sự áp bức của giới chủ.

Giữa dòng chảy ấy, Tôn Đức Thắng không chỉ là một người thợ máy giỏi nghề. Ông còn là người luôn trăn trở trước số phận của những người cùng làm việc với mình.

Ông hiểu rằng, một người công nhân đơn lẻ rất khó thay đổi điều gì. Nhưng nếu họ biết đoàn kết, biết đứng chung trong một tổ chức, sức mạnh ấy sẽ trở thành tiếng nói không thể xem thường.

Chính từ suy nghĩ đó, sau khi trở về Sài Gòn năm 1920, Tôn Đức Thắng cùng những người bạn đồng chí hướng đã thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật Sài Gòn – tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Sự ra đời của Công hội không chỉ đánh dấu bước trưởng thành của phong trào công nhân mà còn mở đầu cho quá trình tổ chức, tập hợp lực lượng cách mạng trong giới lao động.

Đó là một tổ chức hoạt động trong bí mật. Không cờ. Không biển hiệu. Không trụ sở. Nhưng có một niềm tin rất lớn. Niềm tin rằng, người công nhân Việt Nam đủ sức đứng lên bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Từ Công hội bí mật, nhiều phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn được tổ chức bài bản hơn, có mục tiêu rõ ràng hơn. Đỉnh cao là cuộc bãi công Ba Son tháng 8 năm 1925 – một dấu son trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam. Không chỉ đòi quyền lợi cho người lao động, cuộc đấu tranh còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc khi thể hiện tinh thần đoàn kết với phong trào cách mạng thế giới và góp phần làm lan tỏa tư tưởng cách mạng trong giai cấp công nhân.

Điều đáng quý ở Tôn Đức Thắng là ông chưa bao giờ xem mình là người đứng trên tập thể. Ông sống như một người công nhân. Làm việc như một người công nhân. Và đấu tranh như một người công nhân. Có lẽ vì thế, ông luôn nhận được sự tin yêu của những người lao động.

Sự nghiệp của Bác Tôn sau này gắn với nhiều cương vị quan trọng của đất nước, nhưng nền tảng đầu tiên làm nên một nhà lãnh đạo chính là những năm tháng sống giữa công nhân, hiểu công nhân và đấu tranh cùng công nhân.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: TƯ LIỆU

Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: TƯ LIỆU

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: ĐỨC BÌNH

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: ĐỨC BÌNH

Tượng đài Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Tượng đài Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Tháng 7 năm 1929, thực dân Pháp bắt giam Tôn Đức Thắng tại Khám Lớn Sài Gòn. Một năm sau, ông bị kết án hai mươi năm khổ sai và đày ra Côn Đảo.

Đó là nơi mà thực dân Pháp từng tin có thể bẻ gãy ý chí của những người yêu nước. Nhưng với Tôn Đức Thắng, Côn Đảo không phải là dấu chấm hết. Đó là một điểm khởi đầu khác của cuộc đấu tranh.

Gần mười bảy năm sống giữa xiềng xích, ông vẫn giữ vững niềm tin vào con đường cách mạng. Không chỉ kiên cường trước những đòn tra tấn và sự khắc nghiệt của nhà tù, ông còn cùng các đồng chí tổ chức Hội cứu tế tù nhân, tham gia thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo, góp phần biến nơi giam cầm thành nơi học tập, rèn luyện lý tưởng cách mạng.

Trong ký ức của nhiều cựu tù chính trị, Tôn Đức Thắng luôn hiện lên với hình ảnh bình tĩnh, điềm đạm và giàu tình đồng chí.

Không hô hào lớn tiếng. Không khoa trương. Ông truyền niềm tin bằng chính cách sống của mình. Bằng sự nhẫn nại. Bằng tinh thần lạc quan. Bằng ý chí không bao giờ đầu hàng. Có lẽ điều khiến kẻ thù e ngại nhất không phải là sức mạnh thể chất của những người tù cách mạng. Mà là niềm tin không thể bị giam cầm.

Ở Côn Đảo, những cuốn sách lý luận Mác, Ăngghen, Lênin được bí mật đưa vào nhà tù. Những bài học về cách mạng được truyền cho nhau trong điều kiện vô cùng gian khổ. Chính Tôn Đức Thắng là một trong những người tích cực học tập, truyền bá kiến thức và giữ mạch nối giữa tổ chức trong tù với phong trào cách mạng bên ngoài.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh. Thời cơ lịch sử đến. Trên Côn Đảo, những người cộng sản nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng, chuẩn bị trở về đất liền.

Ít tuần sau, Tôn Đức Thắng trở lại với đất liền. Mười bảy năm ngục tù không làm ông già đi trong lý tưởng. Ngược lại, đó là quãng thời gian tôi luyện bản lĩnh của một nhà lãnh đạo tương lai. Để rồi chỉ ít lâu sau, ông được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng trong những năm đầu của nền độc lập.

Nhìn lại chặng đường ấy, người ta hiểu vì sao cuộc đời Tôn Đức Thắng luôn được nhắc đến như biểu tượng của lòng trung thành, đức hy sinh và ý chí không khuất phục. Đó không chỉ là câu chuyện của một cá nhân, mà còn là hình ảnh tiêu biểu của lớp người đã dành cả tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của dân tộc.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: TƯ LIỆU

Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: TƯ LIỆU

Chủ tịch Tôn Đức Thắng gặp gỡ Nhân dân. Ảnh: TƯ LIỆU

Chủ tịch Tôn Đức Thắng gặp gỡ Nhân dân. Ảnh: TƯ LIỆU

Tháng Chín năm 1969. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, cả dân tộc đứng trước một thời khắc đặc biệt. Trọng trách chèo lái đất nước trong những năm tháng chiến tranh ác liệt được đặt lên vai một người đã dành gần trọn cuộc đời cho cách mạng. Đó là Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Không phải ngẫu nhiên mà Đảng và Nhân dân lựa chọn Người.

Suốt hơn hai mươi năm kể từ ngày trở về từ Côn Đảo, ở bất kỳ cương vị nào – từ phụ trách kháng chiến Nam Bộ, lãnh đạo Mặt trận Liên Việt, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch nước đến Chủ tịch nước – Bác Tôn luôn thể hiện phẩm chất của một người cán bộ hết lòng vì việc nước, vì Nhân dân.

Điều làm nên uy tín của Bác Tôn không chỉ là những chức vụ Người từng đảm nhiệm. Mà là cách Người sống. Giản dị. Khiêm nhường. Không màng danh lợi. Sẵn sàng nhận việc khó. Luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của bản thân.

Ở Bác Tôn, người ta không nhìn thấy khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với người dân bình thường. Người vẫn giữ tác phong của một người công nhân. Mộc mạc. Chân tình. Gần gũi. Có lẽ vì vậy mà từ đồng chí, đồng đội đến Nhân dân đều gọi Người bằng hai tiếng thân thương: “Bác Tôn”.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, không nhiều nhà lãnh đạo được nhắc nhớ bằng một cách gọi gần gũi như thế. Đó không chỉ là sự kính trọng. Đó còn là tình cảm. Một tình cảm được vun đắp từ cả cuộc đời sống vì người khác.

Hơn sáu mươi năm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu, trung thành với Đảng, tận tụy phục vụ Nhân dân và trở thành tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, khiêm tốn, giản dị.

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: ĐỨC BÌNH

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: ĐỨC BÌNH

Bác Hồ và Bác Tôn. Ảnh: TƯ LIỆU

Bác Hồ và Bác Tôn. Ảnh: TƯ LIỆU

Trong di sản mà Chủ tịch Tôn Đức Thắng để lại, có lẽ giá trị còn nguyên vẹn nhất đến hôm nay là tinh thần đại đoàn kết.

Hơn ba mươi năm gắn bó với công tác Mặt trận, Bác Tôn luôn tin rằng sức mạnh của dân tộc không nằm ở sự khác biệt, mà ở khả năng quy tụ mọi tầng lớp cùng hướng về mục tiêu chung.

Đối với Người, đoàn kết không phải là một khẩu hiệu. Đó là phương pháp để xây dựng đất nước. Là cách để vượt qua chiến tranh. Là nền tảng để phát triển.

Trong những năm giữ cương vị Chủ tịch Mặt trận Liên Việt rồi Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bác Tôn góp phần quan trọng xây dựng và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trở thành người tiêu biểu cho chính sách đoàn kết của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng ấy không chỉ có ý nghĩa trong chiến tranh. Đến hôm nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, bài học về đoàn kết vẫn còn nguyên giá trị. Đó là đoàn kết giữa các vùng miền. Giữa các dân tộc. Giữa các tôn giáo. Giữa Đảng với Nhân dân. Giữa chính quyền với doanh nghiệp. Giữa mỗi người dân trong hành trình xây dựng quê hương.

Có lẽ vì vậy mà mỗi dịp nhắc đến Bác Tôn, người An Giang không chỉ nhớ về một vị Chủ tịch nước. Mà còn nhớ về một biểu tượng của sự đồng lòng. Một con người mà cuộc đời luôn gắn với hai chữ “đoàn kết”.

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Du khách tham quan các hiện vật trưng bày trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: THÀNH CHINH

Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày cậu bé Tôn Đức Thắng cất tiếng khóc chào đời trên cù lao Ông Hổ. Quê hương ấy hôm nay đã đổi thay. Những con đường rộng mở. Những cây cầu nối đôi bờ. Những công trình mới. Những lớp học đông tiếng trẻ. Những đoàn khách nối nhau về Khu lưu niệm.

Mỗi người đến đây mang theo một cảm xúc khác nhau. Có người tìm hiểu lịch sử. Có người tìm về cội nguồn. Có người chỉ muốn dành vài phút lặng im trước ngôi nhà đơn sơ của một con người đã hiến dâng cả cuộc đời cho Tổ quốc.

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: THÀNH CHINH

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: THÀNH CHINH

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: THÀNH CHINH

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: THÀNH CHINH

Đối với An Giang, Chủ tịch Tôn Đức Thắng không chỉ là người con ưu tú của quê hương. Người còn là nguồn cảm hứng để các thế hệ hôm nay tiếp tục xây dựng tỉnh nhà phát triển.

Đảng bộ và Nhân dân An Giang luôn tự hào là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng; không ngừng kế thừa truyền thống, học tập tấm gương của Người, phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới, sáng tạo để thực hiện mục tiêu xây dựng An Giang phát triển khá của cả nước trong giai đoạn mới.

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Trên quê hương Mỹ Hoà Hưng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Một dòng sông có thể chảy qua nhiều thế hệ. Một vùng đất có thể đổi thay theo năm tháng. Nhưng có những giá trị không bao giờ cũ. Đó là lòng yêu nước. Là sự tận tụy. Là đức khiêm nhường. Là tinh thần đoàn kết.

Cuộc đời Chủ tịch Tôn Đức Thắng không chỉ được ghi trong những trang sử của dân tộc. Cuộc đời ấy còn hiện diện trong cách mỗi người Việt Nam sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, làm việc tận tâm hơn vì đất nước và biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.

Trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Trong Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: LÊ TRUNG HIẾU

Trên quê hương An Giang hôm nay, khi những công trình mới vươn lên, khi những con đường tiếp tục nối dài, khi khát vọng phát triển đang trở thành động lực của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, câu chuyện về Bác Tôn vẫn được kể bằng một cách rất giản dị.

Không chỉ trong những ngày kỷ niệm. Mà trong từng việc làm thiết thực, từng hành động vì cộng đồng và từng bước phát triển của quê hương. Đó có lẽ là sự tri ân sâu sắc nhất đối với người con ưu tú đã dành trọn cuộc đời cho Tổ quốc và Nhân dân.

Chia sẻ bài viết: