Hơn 3 thập niên sau những quyết sách góp phần làm thay đổi diện mạo Đồng bằng sông Cửu Long, những dấu ấn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt vẫn hiện diện trên nhiều vùng đất. Nhưng giá trị của di sản ấy không chỉ nằm ở những con kênh, tuyến dân cư hay những cánh đồng được khai mở, điều đáng chú ý hơn là một cách tiếp cận: đi từ thực tiễn, dựa vào khoa học, lắng nghe người dân và đặt hiệu quả của chính sách trong mối quan hệ với đời sống.

Từ cách ứng xử với lũ, khai thác những vùng đất phèn đến tổ chức sản xuất và phát triển thủy lợi, nhiều quyết sách của thời kỳ đó được hình thành từ những vấn đề cụ thể của đồng bằng. Ngày nay, điều kiện tự nhiên, kinh tế và thị trường đã thay đổi sâu sắc. Những bài toán mới đặt ra yêu cầu tiếp tục điều chỉnh cách phát triển: chủ động thích ứng với tự nhiên, nâng cao giá trị nông nghiệp, tăng cường liên kết vùng, phát triển hạ tầng, khoa học - công nghệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Vì thế, nhìn lại di sản Võ Văn Kiệt không phải để tìm một công thức có thể áp dụng nguyên xi cho hôm nay, mà để nhận diện những giá trị phương pháp có thể tiếp tục gợi mở trong một chặng đường phát triển mới của Đồng bằng sông Cửu Long.

Một buổi sáng đầu mùa mưa, từ cụm tuyến dân cư vượt lũ, bà Nguyễn Thị Bảy ngụ xã Ba Chúc chuẩn bị mẻ cá vừa đánh bắt được để mang ra chợ. Con đường bê tông dẫn từ khu dân cư ra chợ đã trở thành một phần bình thường của cuộc sống, nhưng với người phụ nữ đã đi qua nhiều mùa nước nổi ấy, nơi đây từng là một vùng đất khác.

Hơn ba mươi năm trước, mỗi khi nước lớn, gia đình bà lại kê giường, chuyển đồ đạc lên cao và sống trong tâm trạng thấp thỏm. Mùa nước khi ấy đồng nghĩa với nỗi lo về nhà cửa, tài sản và sự an toàn của cả gia đình. Bây giờ, nỗi lo ấy đã lùi vào ký ức. Gia đình bà có nơi ở an toàn, con cháu được học hành, người lớn có thể chủ động làm ăn ngay cả khi nước từ thượng nguồn đổ về.

Sự thay đổi ấy là một vấn đề rất cụ thể của một chuyển biến lớn hơn trong cách ứng xử với lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Tứ giác Long Xuyên. Ảnh: THÀNH CHINH

Tứ giác Long Xuyên. Ảnh: THÀNH CHINH

Sau những mùa lũ lớn, đặc biệt là trận lũ lịch sử năm 2000, chương trình xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ được triển khai rộng khắp vùng. Riêng tại An Giang, các chương trình đã tạo lập hàng chục nghìn nền nhà và đưa hơn 33.000 hộ dân vào các khu dân cư an toàn. Những con số ấy cho thấy quy mô của một chương trình an sinh, nhưng ý nghĩa sâu hơn nằm ở cách giải bài toán: bảo vệ con người thay vì tìm cách loại bỏ hoàn toàn dòng nước. 

Đó cũng là điểm gặp giữa một quyết sách cụ thể và tư duy phát triển mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt theo đuổi trong quá trình gắn bó với đồng bằng. Lũ cần được kiểm soát để giảm thiệt hại, nhưng không nhất thiết phải được nhìn nhận như một đối tượng cần loại bỏ hoàn toàn. Với một châu thổ hình thành từ nước, phù sa và những biến động tự nhiên của dòng Mê Kông, nước lũ đồng thời mang theo những giá trị sinh thái và sinh kế mà con người có thể khai thác nếu biết tổ chức không gian sống và sản xuất phù hợp.

Chuyên gia sinh thái Nguyễn Hữu Thiện nhiều năm nghiên cứu Đồng bằng sông Cửu Long cũng nhìn nhận lũ như một thành phần của hệ sinh thái châu thổ. Nước lũ góp phần vận chuyển phù sa, bổ sung nguồn lợi thủy sản, rửa phèn và duy trì những quá trình tự nhiên quan trọng. Vì vậy, vấn đề không phải là để lũ tự do gây thiệt hại, mà là tổ chức lại không gian dân cư, sản xuất và hạ tầng để con người an toàn trong khi các chức năng tự nhiên thiết yếu của đồng bằng vẫn được duy trì.

Từ góc nhìn đó, cụm tuyến dân cư vượt lũ không đơn thuần là một công trình chống thiên tai. Nó thể hiện một nguyên tắc quản trị: trước khi tìm cách thay đổi thiên nhiên, phải tìm cách giảm mức độ tổn thương của con người.

Từ thực tiễn phát triển của đồng bằng, tư duy thích ứng ngày càng hoàn thiện và được thể chế hóa trong Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Văn bản này xác lập yêu cầu phát triển bền vững dựa trên đặc điểm tự nhiên, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và khai thác hợp lý các lợi thế của vùng.

Nếu những vùng đầu nguồn đặt ra bài toán sống cùng nước lũ thì các vùng ven biển lại đặt ra một câu hỏi khác: có phải nước mặn lúc nào cũng là kẻ thù?

Câu hỏi ấy từng gây ra những nghịch lý rất thật trong đời sống sản xuất. Ở những vùng ven biển, Nhà nước từng đầu tư các công trình thủy lợi nhằm kiểm soát mặn, giữ ngọt, phục vụ yêu cầu sản xuất lúa và bảo đảm an ninh lương thực. Trong bối cảnh đất nước còn thiếu lương thực, việc mở rộng sản xuất lúa, khai hoang và xây dựng hệ thống thủy lợi có ý nghĩa lịch sử rõ ràng. Những vùng đất từng khó sản xuất đã được đánh thức, góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ tình trạng thiếu lương thực trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn.

Nhưng điều kiện tự nhiên của đồng bằng không đồng nhất. Vùng đầu nguồn có thế mạnh nước ngọt khác với vùng ven biển chịu tác động của thủy triều. Một mô hình sản xuất thành công ở vùng này chưa chắc phù hợp với vùng khác. Khi kinh tế nông nghiệp thay đổi, giá trị của đất và nước cũng thay đổi theo.

Trong những năm cuối thập niên 1990, quá trình triển khai các công trình thủy lợi ở bán đảo Cà Mau đặt ra nhiều vấn đề cần được tiếp tục xem xét từ thực tiễn. Nông dân ở những vùng có điều kiện thích hợp với nuôi tôm cần nước mặn, trong khi yêu cầu sản xuất lúa lại cần kiểm soát mặn. Sự khác biệt ấy buộc các nhà quản lý phải nhìn nhận lại mối quan hệ giữa công trình thủy lợi, điều kiện sinh thái và sinh kế của người dân.

Kênh Võ Văn Kiệt. Ảnh MINH HIỂN

Kênh Võ Văn Kiệt. Ảnh MINH HIỂN

Trong những chuyến khảo sát thực địa, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thường quan tâm đến những mâu thuẫn. Điều đáng chú ý không phải là ông phủ nhận vai trò của công trình thủy lợi hay những thành quả của quá trình khai hoang, ngọt hóa, mà là phương pháp xem xét chính sách từ thực tiễn đang vận động.

Từ cách nhìn đó, đồng bằng dần được nhận thức không phải như một mặt bằng đồng nhất về tự nhiên. Vùng ngọt, vùng lợ và vùng mặn có thể cùng tồn tại trong một chỉnh thể, mỗi vùng phát huy lợi thế riêng và liên kết với nhau thông qua thị trường, hạ tầng, nguồn nước và chuỗi giá trị.

Kênh T5, nay được biết đến với tên kênh Võ Văn Kiệt, là một trong những dấu tích hạ tầng tiêu biểu của quá trình khai mở Tứ giác Long Xuyên. Theo quy hoạch giao thông thủy hiện hành của An Giang, kênh T5 có chiều dài khoảng 36,7 km và vẫn là một thành phần của mạng lưới thủy lợi, giao thông thủy trong khu vực. 

Nhưng ý nghĩa của những công trình như Kênh T5 không chỉ nằm ở chiều dài con kênh. Điều quan trọng hơn là từ những vùng đất từng bị xem là khó khai thác, con người từng bước hình thành một không gian sản xuất và dân cư mới. Câu chuyện ấy cho thấy hạ tầng chỉ phát huy hiệu quả khi nó được đặt trong một chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu của người dân.

Có một thời, câu hỏi lớn nhất của Đồng bằng sông Cửu Long là làm thế nào để sản xuất đủ lương thực cho đất nước.

Đó là yêu cầu của lịch sử.

Trong những năm đầu đổi mới, việc khai phá những vùng đất phèn, ngập nước ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, phát triển thủy lợi, mở rộng diện tích sản xuất lúa có ý nghĩa đặc biệt đối với an ninh lương thực quốc gia. Những vùng đất từng rất khó canh tác dần trở thành những vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng. Thành quả ấy góp phần đưa Việt Nam từ một quốc gia thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn.

Nhìn lại từ hiện tại, cần đặt những quyết sách ấy đúng vào hoàn cảnh lịch sử của chúng. Không thể lấy những yêu cầu của nền kinh tế xanh, phát thải thấp hay thị trường nông sản hiện đại hôm nay để phủ định những nhiệm vụ cấp thiết của nhiều thập niên trước.

Nhưng chính thành công ấy lại mở ra một câu hỏi mới.

Khi bài toán thiếu gạo đã cơ bản được giải quyết, liệu tiếp tục gia tăng sản lượng có đồng nghĩa với việc đời sống người nông dân sẽ tốt hơn?

Đây là điểm chuyển quan trọng trong tư duy phát triển nông nghiệp. Một héc-ta đất có thể tạo ra nhiều tấn lúa hơn, nhưng nếu chi phí sản xuất tăng, giá bán bấp bênh, tài nguyên đất và nước suy giảm thì sản lượng cao chưa chắc đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế cao.

Trên cánh đồng tứ giác Long Xuyên. Ảnh: THÀNH CHINH

Trên cánh đồng tứ giác Long Xuyên. Ảnh: THÀNH CHINH

 Theo hồi ức của ông Nguyễn Hữu Khánh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy An Giang: "Trong những lần về cơ sở, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thường quan tâm đến những câu hỏi rất cụ thể về đời sống nông dân, đầu ra nông sản và hiệu quả kinh tế trên đất sản xuất. Cách đặt vấn đề ấy đưa câu chuyện nông nghiệp ra khỏi phạm vi của những con số sản lượng để trở về với mục tiêu cuối cùng của phát triển: nâng cao đời sống người dân".

 Ngày nay, câu hỏi ấy càng trở nên cấp thiết. Thị trường nông sản đã thay đổi. Người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, an toàn thực phẩm, nguồn gốc, môi trường và phát thải. Các chuỗi cung ứng quốc tế ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe. Trong khi đó, biến đổi khí hậu và sự thay đổi dòng chảy Mê Kông làm cho chi phí duy trì những mô hình sản xuất không phù hợp ngày càng lớn.

 Bởi vậy, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp không đơn giản là đổi một thuật ngữ. Đó là sự thay đổi trong cách tính toán: từ số lượng hàng hóa tạo ra sang tổng giá trị được tạo ra trong cả chuỗi; từ một vụ mùa sang nhiều tầng giá trị của đất, nước, giống, công nghệ, chế biến, logistics, thương hiệu và thị trường.

 Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 là một bước cụ thể trong quá trình chuyển dịch đó. Quyết định 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 xác định rõ mục tiêu phát triển vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh. 

 

 

Một triệu héc-ta – từ sản lượng sang chất lượng

Quyết định 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 phê duyệt Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh ở Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Đây là bước chuyển chính sách quan trọng, đặt chất lượng, hiệu quả, giảm phát thải và tăng trưởng xanh vào cùng một bài toán phát triển lúa gạo. 

Ở xã Ba Chúc, ông Nguyễn Lợi Đức, thường được gọi là Sáu Đức, là hình ảnh gần gũi của một lớp nông dân đang thay đổi cách tính toán trên đất đai của mình.

Sau nhiều năm gắn bó với cây lúa, ông nhận ra năng suất không phải là biến số duy nhất quyết định hiệu quả. Từ đó, cách làm của ông chuyển dần sang giảm chi phí, ứng dụng kỹ thuật và đa dạng hóa sản xuất với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, trong đó có lúa, chuối phục vụ xuất khẩu, chăn nuôi bò và cây ăn trái.

Điều đáng chú ý trong câu chuyện của ông không phải danh sách các loại cây, con được lựa chọn, mà là cách tư duy. Khi người nông dân bắt đầu tính toán hiệu quả trên một đơn vị diện tích, họ buộc phải quan tâm đến chi phí đầu vào, chất lượng sản phẩm, thị trường, thời điểm thu hoạch và khả năng liên kết với doanh nghiệp.

Đó là lúc người nông dân không còn chỉ là người sản xuất nguyên liệu.

Họ trở thành một chủ thể kinh tế.

Trên cánh đồng tứ giác Long Xuyên. Ảnh: THÀNH CHINH

Trên cánh đồng tứ giác Long Xuyên. Ảnh: THÀNH CHINH

Sự chuyển đổi này có ý nghĩa đặc biệt đối với Đồng bằng sông Cửu Long, nơi hàng triệu hộ dân vẫn đang trực tiếp quyết định cách sử dụng đất, nước và nguồn lực sản xuất mỗi ngày. Một chiến lược phát triển dù đúng đến đâu cũng khó thành công nếu người trực tiếp sản xuất không có năng lực tham gia vào chuỗi giá trị.

Bởi vậy, hình ảnh “doanh nhân nông nghiệp” cần được hiểu trước hết như một yêu cầu mới đối với năng lực của người nông dân. Người sản xuất phải biết tính toán hiệu quả, hiểu thị trường, hợp tác, ứng dụng công nghệ, kiểm soát chất lượng và thích ứng với những biến động của khí hậu.

Trong điều kiện mới, năng lực ấy càng quan trọng bởi biến đổi khí hậu không chỉ làm thay đổi thời tiết. Nó làm thay đổi cả cấu trúc rủi ro của nông nghiệp. Nước mặn, hạn, lũ, nhiệt độ, dịch bệnh và thị trường có thể đồng thời tác động đến một mùa vụ. Người nông dân không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm của một mùa sản xuất trước đó để quyết định cho mùa sau.

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện cho rằng phát triển bền vững phải đặt trong giới hạn sức chịu tải của hệ sinh thái. Khi tài nguyên được sử dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên, chi phí chống chọi với thiên nhiên cũng giảm xuống. Điều đó đặc biệt có ý nghĩa đối với những vùng mà sản xuất nông nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào chế độ nước.

Từ đây, “thuận thiên” cần được hiểu theo nghĩa chủ động hơn. Đó không phải là chấp nhận mọi biến động của tự nhiên, càng không phải buông lỏng quản lý. Đó là lựa chọn mô hình sản xuất, hạ tầng và tổ chức không gian dựa trên hiểu biết về quy luật tự nhiên, đồng thời sử dụng khoa học và công nghệ để nâng cao khả năng thích ứng.

Buổi sớm trên Kênh T5, dòng nước vẫn chảy qua vùng Tứ giác Long Xuyên. Hai bên bờ, những cánh đồng hôm nay đã mang một diện mạo khác xa hình dung về vùng đất phèn, ngập nước của nhiều thập niên trước.

Anh Nguyễn Minh Phụng, một nông dân ở khu vực Ba Chúc, nhìn dòng nước và nhớ lại những câu chuyện cha mình kể về vùng đất từng rất khó canh tác. Với thế hệ của anh, những thay đổi ấy đã trở thành một phần của cảnh quan quen thuộc. Nhưng để có những thay đổi, phía sau những công trình và vùng sản xuất hôm nay là cả một quá trình khảo sát, tranh luận, nghiên cứu và quyết định. Đây cũng là nơi có thể thấy rõ một nét trong phương pháp lãnh đạo của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ông không xem thực tiễn là khâu cuối cùng để kiểm nghiệm một chính sách đã được xây dựng sẵn. Thực tiễn là điểm xuất phát.

Những chuyến đi cơ sở, những lần khảo sát đồng ruộng, gặp gỡ nông dân, cán bộ địa phương và các nhà khoa học giúp ông tiếp cận vấn đề từ nhiều phía. Một vùng đất phèn không chỉ được nhìn qua bản đồ; nó được nhìn từ khả năng canh tác của người dân. Một dòng nước không chỉ được tính bằng lưu lượng; nó còn được nhìn từ tác động đến sinh kế, đất đai và hệ sinh thái.

Trình diễn lúa chất lượng cao ở tứ giác Long Xuyên. Ảnh: MINH HIỂN

Trình diễn lúa chất lượng cao ở tứ giác Long Xuyên. Ảnh: MINH HIỂN

Ông Nguyễn Hữu Khánh từng nhấn mạnh rằng trong quá trình làm việc với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, điều ông nhận thấy rõ là các quyết định quan trọng thường được đặt trong mối quan hệ giữa thực tiễn, khoa học và lợi ích của người dân. Những chuyến đi thực địa vì vậy không phải hoạt động mang tính hình thức, mà là một phần của quá trình hình thành chính sách.

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, người tham gia các chương trình điều tra cơ bản về Đồng bằng sông Cửu Long, cũng đánh giá cao cách tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Các chương trình điều tra cơ bản, khảo sát đất đai, nguồn nước và điều kiện tự nhiên đã góp phần tạo dựng nền tảng tri thức để nhận diện tiềm năng và giới hạn của vùng.

Cố GS.TS Võ Tòng Xuân, nhà nông học gắn bó sâu sắc với đồng bằng, từng đánh giá cao sự quan tâm của ông Sáu Dân đối với vấn đề lương thực và nghiên cứu khoa học nông nghiệp. Trong những năm đất nước còn thiếu lương thực, việc đặt khoa học vào bài toán khai thác tiềm năng đất đai và cây lúa có ý nghĩa rất lớn.

Điều đáng nói là phương pháp ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Khi điều kiện phát triển thay đổi, chính cách tư duy dựa trên thực tiễn và khoa học cho phép chính sách tiếp tục được điều chỉnh.

Đây chính là điểm cần phân biệt giữa “di sản chính sách” và “di sản phương pháp”. Những con kênh, khu dân cư hay mô hình sản xuất có thể thay đổi theo thời gian. Nhưng phương pháp bắt đầu từ thực tiễn, đối thoại với khoa học và hướng đến lợi ích của người dân vẫn có thể tiếp tục được vận dụng trong những bài toán mới.

Một trong những thay đổi lớn nhất trong tư duy phát triển Đồng bằng sông Cửu Long là sự chuyển dịch từ cách nhìn theo địa giới hành chính sang cách nhìn theo không gian kinh tế và sinh thái.

Dòng nước không dừng lại ở ranh giới tỉnh. Phù sa không biết địa giới hành chính. Nước mặn, hạn hán, lũ lụt và những biến động của dòng Mê Kông cũng không vận hành theo bản đồ hành chính. Vì thế, những vấn đề của đồng bằng ngày càng đòi hỏi cách giải quyết ở quy mô vùng.

Và có thể nhận thấy tư duy ấy đã được chuyển hóa mạnh mẽ trong những chính sách phát triển vùng những năm gần đây. Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 2/4/2022 của Bộ Chính trị xác định phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết 78/NQ-CP tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển vùng nhanh và bền vững, tăng cường liên kết vùng và phát huy lợi thế đặc thù. 

Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định 287/QĐ-TTg ngày 28/2/2022. Đây là bước tiến quan trọng trong việc tổ chức lại không gian phát triển của vùng trên cơ sở liên kết, tích hợp và thích ứng với điều kiện tự nhiên. 

Đến ngày 4/4/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 616/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc điều chỉnh quy hoạch cho thấy không gian phát triển vùng tiếp tục được cập nhật để phù hợp với điều kiện mới. 

Liên kết để đồng bằng cất cánh

Liên kết để đồng bằng cất cánh

Nếu nhìn lại từ những công trình khai mở trước đây, có thể thấy một mạch tư duy xuyên suốt: không gian sản xuất chỉ có thể phát triển lâu dài khi được đặt trong quan hệ với không gian nước, không gian dân cư, hạ tầng và thị trường.

Đó là lý do những vấn đề tưởng như riêng biệt của một địa phương lại cần được giải quyết trong một cấu trúc lớn hơn. Một vùng chuyên canh lúa cần thị trường và logistics. Một vùng nuôi thủy sản cần hệ thống kiểm soát nguồn nước. Một trung tâm chế biến cần vùng nguyên liệu ổn định. Một tuyến giao thông chỉ phát huy hết hiệu quả khi kết nối được với các vùng sản xuất và các trung tâm tiêu dùng.

Từ đây, liên kết vùng không còn là một khẩu hiệu hành chính. Nó trở thành điều kiện kinh tế để đồng bằng giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.

Lịch sử phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long có thể nhìn thấy qua một chuỗi chuyển đổi của những câu hỏi. Trước đây là làm thế nào để có đủ lương thực. Sau đó là làm thế nào để sản xuất hiệu quả hơn. Tiếp theo là làm thế nào để nông sản có giá trị cao hơn.

Và hôm nay, câu hỏi đã rộng hơn nữa: làm thế nào để tạo ra một nền nông nghiệp vừa bảo đảm an ninh lương thực, góp phần vào an ninh dinh dưỡng, vừa tạo thu nhập tốt cho người dân, bảo vệ tài nguyên và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường?

Đó không phải là sự thay thế hoàn toàn mục tiêu an ninh lương thực bằng một mục tiêu khác. Đó là sự mở rộng nội hàm của an ninh lương thực trong điều kiện phát triển mới.

Một nền nông nghiệp hiện đại không chỉ cần đủ sản lượng. Nó phải cung cấp thực phẩm an toàn, đa dạng và có chất lượng; đồng thời bảo đảm khả năng tiếp cận của người dân đối với nguồn thực phẩm đó. Với một vùng có lợi thế đặc biệt về lúa gạo, thủy sản và trái cây như Đồng bằng sông Cửu Long, bài toán đặt ra là làm sao biến lợi thế sản xuất thành giá trị dinh dưỡng, kinh tế và xã hội cao hơn.

Trên cánh đồng xã Núi Cấm (An Giang). Ảnh: MINH HIỂN

Trên cánh đồng xã Núi Cấm (An Giang). Ảnh: MINH HIỂN

Nghị quyết 120/NQ-CP đã đặt nền tảng cho tư duy phát triển bền vững và thích ứng. Sau đó, Nghị quyết 13-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục đặt Đồng bằng sông Cửu Long trong chiến lược phát triển vùng với yêu cầu khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế và tạo động lực phát triển mới. 

Trong lĩnh vực lúa gạo, Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp là minh chứng rõ cho bước chuyển từ mục tiêu sản lượng sang mục tiêu tổng hợp: chất lượng, hiệu quả, giảm phát thải, tăng trưởng xanh và tổ chức lại sản xuất. 

Từ đó, kinh tế nông nghiệp cần được nhìn như một hệ sinh thái rộng hơn cánh đồng. Giá trị có thể đến từ hạt gạo, nhưng cũng có thể đến từ phụ phẩm được tái sử dụng, công nghệ chế biến, thương hiệu, logistics, dữ liệu sản xuất, du lịch nông nghiệp hay các dịch vụ môi trường.

Đây cũng là nơi khái niệm kinh tế tuần hoàn trở nên có ý nghĩa thực tiễn. Rơm rạ không nhất thiết phải là chất thải. Phụ phẩm chăn nuôi có thể trở thành nguồn nguyên liệu. Nước, đất và sinh khối cần được sử dụng trong những chu trình tiết kiệm hơn. Mỗi đơn vị tài nguyên nếu được khai thác nhiều lần sẽ tạo ra giá trị cao hơn mà không nhất thiết phải mở rộng khai thác tự nhiên.

Nhưng để làm được điều đó, người nông dân phải được đặt ở trung tâm của chuỗi giá trị. Không thể yêu cầu nông dân chuyển đổi nếu thị trường chưa hình thành, nếu doanh nghiệp không tham gia, nếu hạ tầng thiếu đồng bộ hoặc nếu rủi ro vẫn dồn phần lớn về phía người sản xuất.

Bởi vậy, bài toán mới của đồng bằng không chỉ là thay đổi cây trồng hay phương thức canh tác. Đó là tổ chức lại toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp.

Hơn 30 năm trước, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nhiều lần về với những vùng đất còn đầy thử thách để tìm lời giải từ chính nơi vấn đề phát sinh. Những con kênh, tuyến dân cư, cánh đồng và vùng sản xuất hôm nay là những dấu tích hữu hình của một thời kỳ khai mở.

Nhưng đồng bằng không đứng yên. Những công trình của hôm qua tiếp tục được vận hành, điều chỉnh và kết nối trong một không gian phát triển mới. Những bài toán về lũ, nước mặn, đất đai và sản xuất hôm nay đã gắn với những vấn đề lớn hơn: biến đổi khí hậu, chất lượng tăng trưởng, khoa học - công nghệ, logistics, liên kết vùng, kinh tế biển, đô thị hóa và chất lượng sống của người dân.

Những vấn đề ấy đang được đặt trong một cách tiếp cận toàn diện hơn. Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị xác định yêu cầu chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tôn trọng quy luật của tự nhiên, nhận diện đúng nguyên nhân để xử lý từ gốc. Các giải pháp phải bảo đảm tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình, lấy đời sống người dân làm thước đo quan trọng nhất và lấy phát triển kinh tế - xã hội làm trọng tâm.

Điều đó cho thấy bài toán của đồng bằng hôm nay không còn chỉ là làm thế nào để kiểm soát lũ, ngăn mặn hay chống sạt lở bằng từng công trình riêng lẻ. Đó là bài toán quản trị tổng thể đất, nước, dân cư, sản xuất và hạ tầng trong một không gian liên kết. Những vùng có điều kiện sinh thái khác nhau cần được tổ chức sản xuất phù hợp; nguồn nước phải được sử dụng tiết kiệm, trữ và điều tiết chủ động hơn; các công trình mới phải tính đến nhiều mục tiêu và khả năng thích ứng lâu dài.

Cùng với đó, khoa học - công nghệ đang mở thêm những công cụ mới cho quá trình thích ứng. Dữ liệu, công nghệ dự báo, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số có thể giúp nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định. Nếu trước đây những chuyến đi thực địa, khảo sát và đối thoại với người dân là cơ sở quan trọng để hình thành quyết sách, thì hôm nay những phương pháp ấy được bổ sung bằng các công cụ khoa học và công nghệ mới. Phương pháp tiếp cận có thể được kế thừa, nhưng công cụ để hiểu và quản trị đồng bằng đã bước sang một giai đoạn khác.

Đó cũng là lý do nhìn lại di sản Võ Văn Kiệt không phải để tìm lại một mô hình cũ, càng không phải để áp dụng nguyên xi những cách làm của một thời kỳ khác. Điều đáng nhìn lại là cách một thế hệ lãnh đạo đã đi vào thực tiễn, lắng nghe những vấn đề từ cơ sở, dựa vào tri thức và tổ chức nguồn lực để giải quyết những yêu cầu cấp thiết của đất nước.

Trên nền tảng những thành quả đã có, Đảng và Nhà nước tiếp tục định hình một không gian phát triển mới cho đồng bằng: sinh thái, văn minh, bền vững; kinh tế nông nghiệp hiện đại, hiệu quả cao; hạ tầng đồng bộ; liên kết vùng chặt chẽ; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong quá trình ấy, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành những động lực quan trọng, còn người dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng thụ hưởng của phát triển.

Từ khai mở đến thích ứng, từ sản lượng đến giá trị, từ những vùng đất riêng lẻ đến một không gian kinh tế liên kết - đó không phải là sự thay thế đơn giản của một mô hình bằng một mô hình khác. Đó là quá trình phát triển liên tục, trong đó thành quả của hôm qua trở thành nền tảng để giải quyết những bài toán của ngày mai.

Ở trung tâm của quá trình ấy phải là con người.

Trên một con đường ở An Giang. Ảnh: MINH HIỂN

Trên một con đường ở An Giang. Ảnh: MINH HIỂN

Nếu trước đây đồng bằng phải giải bài toán làm ra đủ lương thực, thì hôm nay phải giải đồng thời nhiều bài toán hơn: tạo ra giá trị cao hơn trên cùng một đơn vị đất và nước; nâng thu nhập của người dân; phát triển công nghiệp chế biến và logistics; mở rộng thị trường; giảm phát thải; bảo vệ tài nguyên; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng cường liên kết giữa các địa phương, các ngành và các thành phần kinh tế.

Người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long của tương lai không chỉ là người sản xuất nguyên liệu. Họ cần trở thành một chủ thể kinh tế có khả năng lựa chọn mô hình sản xuất, ứng dụng công nghệ, tham gia chuỗi giá trị, quản trị rủi ro và tạo ra giá trị từ chính những lợi thế của đất, nước và con người nơi đây.

Đến năm 2030, mục tiêu không chỉ là một đồng bằng sản xuất nhiều hơn, mà là một đồng bằng tạo ra nhiều giá trị hơn với nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn. Đến tầm nhìn 2050, đó phải là một không gian phát triển hiện đại, có sức cạnh tranh, thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó kinh tế và sinh thái không phải hai cực đối lập mà cùng tạo nên nền tảng của phát triển bền vững.

Và trên hành trình ấy, điều còn lại có giá trị từ di sản của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt không phải là một công thức bất biến, mà là một phương pháp tiếp cận: dám đi vào thực tiễn, tôn trọng quy luật, coi trọng khoa học, lắng nghe người dân và luôn đặt câu hỏi về hiệu quả thực chất của mỗi quyết sách.

Một tầm nhìn của một thời kỳ chỉ có thể sống tiếp khi được đặt trong những điều kiện mới và được tiếp tục phát triển bằng những tư duy mới.

Từ những vùng đất được khai mở hôm qua, Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay đang đứng trước một không gian phát triển rộng lớn hơn. Không chỉ là vựa lúa, không chỉ là vùng sản xuất nông nghiệp, mà là một vùng kinh tế hiện đại, sinh thái, liên kết và có sức cạnh tranh, nơi những giá trị của đất, nước, con người, khoa học - công nghệ và thị trường được kết nối để tạo nên một tương lai bền vững hơn cho vùng đất Chín Rồng.

Và đó có lẽ cũng là cách thiết thực nhất để nhìn lại một di sản: không phải để quay về quá khứ, mà để từ những gì đã được khai mở, tiếp tục mở ra con đường phát triển cho tương lai./.

Phóng viên Minh Hiển và nông dân Sáu Đức

Phóng viên Minh Hiển và nông dân Sáu Đức

Chia sẻ bài viết: