Mở lối cho Tứ giác Long Xuyên

29/05/2017 - 08:02
A A

(AGO) - Từ quyết định táo bạo của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Tứ giác Long Xuyên (TGLX) từ một vùng “phèn chua, cỏ cháy”, thường xuyên đói ăn trở thành vùng trọng điểm sản xuất lương thực của ĐBSCL và cả nước. Tuy nhiên, điểm yếu của TGLX là canh tác manh mún, thiếu liên kết vùng.

Vượt thách thức cũ, gặp thách thức mới

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) An Giang Trần Anh Thư cho biết, trước đây, vùng TGLX được hiểu là khu vực nằm bên trong của 4 “góc” là: Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá và Hà Tiên, chủ yếu thuộc 2 tỉnh An Giang, Kiên Giang và một phần của TP. Cần Thơ. Tuy nhiên, theo cách hiểu mới, vùng TGLX hiện nay kéo dài tới Vị Thanh của tỉnh Hậu Giang. “Đến năm 1986, TGLX vẫn là vùng đói ăn. Sau khi tổ chức lại sản xuất, đặc biệt là Quyết định năm 1993 của Chính phủ về thí điểm liên kết vùng ĐBSCL, sau đó là chủ trương phóng kênh thoát lũ ra biển Tây năm 1996 - 1997, giúp tháo chua rửa phèn, vùng TGLX đã thực sự thay đổi. Từ sản xuất tự cung, sản lượng lúa vùng TGLX đã chuyển hướng sang xuất khẩu với sản lượng khoảng 5 triệu tấn/năm”- ông Thư đánh giá.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Quang Thi, với vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng nên thời gian qua, tiểu vùng TGLX đã được các bộ, ngành Trung ương và các địa phương quan tâm đầu tư, phát triển nhằm khai thác lợi thế sẵn có của tiểu vùng, đặc biệt là lợi thế sản xuất nông nghiệp như: Chuỗi sản xuất lúa gạo, chuỗi sản xuất rau màu, thủy sản... “Vai trò cũng như vị trí quan trọng của tiểu vùng TGLX đã được chứng minh nhưng tiểu vùng cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Đó là việc đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo chủ trương của Chính phủ còn chậm, sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán, chưa đáp ứng theo yêu cầu của thị trường, thiếu sự liên kết và hợp tác xây dựng chuỗi giá trị ngành hàng. Trong khi đó, tình hình diễn biến phức tạp của thời tiết cực đoan, đặc biệt là tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng lớn đến tiểu vùng TGLX”- ông Thi phân tích.

T1-2.jpg

Ngoài cây lúa, chuối cấy mô cũng là lợi thế lớn của vùng TGLX

Trước thực trạng trên, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã giao UBND tỉnh An Giang chủ trì, phối hợp các tỉnh thuộc tiểu vùng TGLX xây dựng Đề án “Liên kết phát triển bền vững tiểu vùng TGLX”, lấy ý kiến các bộ, cơ quan liên quan và các nhà khoa học, gởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện chỉ đạo này, sau khi tổ chức họp bàn kế hoạch với các nhà khoa học, nhà quản lý, trong 2 ngày 16 và 17-5, UBND tỉnh An Giang đã chủ trì tổ chức hội thảo “Liên kết tiểu vùng TGLX - Thách thức và tầm nhìn”. Đây là lần đầu tiên một hội thảo có sự tham dự đầy đủ của 4 tỉnh, thành phố trong vùng TGLX (An Giang, Kiên Giang, TP. Cần Thơ, Hậu Giang), các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, đại diện doanh nghiệp, nông dân tiêu biểu… Qua đó, giúp An Giang tập hợp được nhiều ý kiến quý báu, có sự thống nhất và đồng thuận cao của các nhà khoa học, nhà quản lý để tiến tới xây dựng Đề án “Liên kết phát triển bền vững tiểu vùng TGLX”.

Chung tay hành động

Dù đang chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu nhưng theo Ths. Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia sinh thái đất ngập nước, trong thông tin tuyên truyền, cần hiểu đúng vấn đề nhằm tránh gây tâm lý hoang mang không đáng có. “Nhiều người hay nhắc đến kịch bản biến đổi khí hậu với khả năng nước biển dâng, gây ngập vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, theo kịch bản 4.5 mà Bộ Tài nguyên và Môi trường chọn lựa, khả năng cao nhất là đến năm 2100, nước biển dâng cao thêm 55cm. Từ đây đến cuối thế kỷ XXI, còn phải cập nhật thay đổi đến 28 lần. Hơn nữa, nước dâng từ từ với khoảng 3mm/năm, chúng ta hoàn toàn có thể thích ứng được”- Ths. Thiện phân tích.

Theo chuyên gia sinh thái đất ngập nước, hiện tượng nước lớn, nước ròng hay còn gọi là thủy triều tự nhiên, giúp rửa đất, đem cá vào kênh, rạch, tạo nên văn hóa đặc thù của vùng ĐBSCL. Nếu vội vàng đóng cửa sông để ngăn mặn hoặc xây dựng các hồ chứa nước nhân tạo giữa đồng bằng sẽ làm thay đổi môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến môi trường và cuộc sống người dân. “Vấn đề cần quan tâm hiện nay là việc Trung Quốc xây dựng 7 đập thủy điện sẽ giữ lại 50% lượng phù sa và 100% lượng cát tự nhiên trên dòng Mê Kông. Bản thân cát không thể vượt qua đập thủy điện. Lượng cát hiện nay là do còn tồn lại trong dòng chảy. Về lâu dài, khi không kiểm soát khai thác cát sông, cát vùng cửa biển và tìm vật liệu thay thế thì sẽ gây sạt lở nghiêm trọng hơn”- Ths. Thiện lưu ý.

GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân, chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, cho rằng, lợi thế của ĐBSCL là vùng duy nhất trong tiểu vùng Mê Kông có biển. “Cần phải xem nước mặn và nước lợ là tài nguyên, có tiềm năng khai thác lớn chứ không phải là kẻ thù. Thay vì tìm cách ngăn mặn, đẩy mặn ra xa, chúng ta có thể nghiên cứu, tính toán lại các loại cây trồng, vật nuôi thích ứng với nước mặn, nước lợ. Đối với các địa phương vùng TGLX, cần xem lại tư duy “đuổi” lũ ra sớm để sản xuất vụ đông xuân và ngăn đê bao sản xuất vụ thu đông có hợp lý không. Chúng ta cần thích ứng hài hòa với lũ tự nhiên”- GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân phân tích thêm.

Bỏ thời gian nghiên cứu sâu về vùng TGLX, GS.TS. Võ Tòng Xuân cho rằng, bên cạnh liên kết đồng bộ giữa các địa phương trong tiểu vùng về quy hoạch thủy lợi, hạ tầng giao thông, cần tính toán lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý. “Tại sao cứ phải chăm chăm vào sản xuất lúa trong khi có nhiều loại cây trồng khác vẫn có tiềm năng, thị trường, giá trị kinh tế lại cao hơn?”- GS.TS. Võ Tòng Xuân gợi ý.

Bài, ảnh: NGÔ CHUẨN