Những đứa trẻ hoang dã dạy cho chúng ta điều gì?

25/07/2011 - 08:39
A A

Genie đã 13 tuổi nhưng trông chỉ lên 6 hay 7. Từ khi mới 20 tháng, đứa bé gái bị giam giữ, bị trói cả ngày lẫn đêm, bị ông bố loạn tâm đánh đập. Một loạt các trắc nghiệm đã được thực hiện với Genie.

Genie đã 13 tuổi nhưng trông chỉ lên 6 hay 7. Từ khi mới 20 tháng, đứa bé gái bị giam giữ, bị trói cả ngày lẫn đêm, bị ông bố loạn tâm đánh đập. Một loạt các trắc nghiệm đã được thực hiện với Genie.

Từ Victor ở Aveyron đến Genie

Giống như Victor, Genie có một lối ứng xử và những phản ứng hoàn toàn không bình thường. Giống như Victor, nó gây ra một sự quan tâm mạnh mẽ ở các nhà khoa học cũng như trong công luận: "Genie sẽ trở thành đứa trẻ được trắc nghiệm nhiều nhất trong lịch sử", bác sĩ tâm thần Thierry Gineste viết (4).

Giống như Victor, nó xuất hiện đúng lúc như để giúp giải quyết một cuộc tranh luận khoa học quan trọng: bản chất con người ở Victor và bản chất ngôn ngữ đối với Genie. Ngay vào năm sinh của nó (1957), tác phẩm Các cấu trúc cú pháp của Noam Chomsky ra đời(5), trong đó ông bảo vệ luận điểm về tính bẩm sinh của các qui tắc cú pháp - một luận điểm bị các học trò của Burrhus F.Skinner cũng như của Jean Piaget chống lại kịch liệt. Đối với những người chỉ có thể xảy ra trong một “thời kỳ gay go” từ 2 đến 12 tuổi, như nhà tâm lý học thần kinh Eric Lenneberg nêu ra năm 1967.

Một nữ sinh viên ngôn ngữ học Susan Curtiss, tập trung nghiên cứu ngôn ngữ của Genie. Câu chuyện sau đó giống với câu chuyện của Victor. Báo cáo đầu tiên tỏ ra lạc quan, báo cáo thứ hai ít lạc quan hơn.
Genie bị biến thành đứa trẻ hoang dã ngay trong ngôi nhà mình
Genie bị biến thành đứa trẻ hoang dã ngay trong ngôi nhà mình

Cuối cùng, mẹ của Genie giành lấy con mình từ tay những nhà nghiên cứu mà bà buộc tội họ trước tòa án là đã làm quá nhiều trắc nghiệm trên con gái mình, “trong một bối cảnh cưỡng bức và nô dịch”. Từ 1986, người ta không thấy dấu vết của nó nữa. Người ta chỉ biết rằng nó đang sống tại một trường học dành cho những trẻ chậm tiến về tinh thần(6).

Ngay cả sự tồn tại của những đứa trẻ hoang dã cũng bị phản bác, nhất là sự tồn tại của những đứa trẻ được thú vật nuôi. Chẳng hạn, Bergen Evans chế nhạo chuyện những đứa trẻ này khi quay sang những trường hợp của Amala và Kamla(7). Một sự hoài nghi mà L.Malson cho là quá đáng.

Thật vậy, một số chi tiết do linh mục Singh đưa ra có vẻ không đúng: hai con mắt ánh lên trong đêm tối “với một ánh sáng màu xanh kỳ lạ”, “những cái tai lớn phẳng phiu” đổi màu khi bị kích động... Và người ta cho B.Evans là có lý vì linh mục là một tay chụp ảnh tồi và cũng là một người quan sát khoa học tồi.

Nhưng ngay cả những sự vụng về trong lời kể của ông, những điểm ông mô tả giống với những sự mô tả của người khác về những đứa trẻ hóa thành động vật, lại làm cho ông khả tín. Một luận cứ khác được đưa ra về Vitor và thường được lấy lại:

Những đứa trẻ ấy bị thoái hóa không phải vì chúng bị vứt bỏ, mà chúng bị vứt bỏ vì chúng chậm phát triển (đó là luận điểm của Franz Joseph de Gall và Johann Caspar Spurzheim, của Ph.Pinel, J.E.D. d’Esquirol, được Dennis và Claude Lévi Srauss lấy lại) hoặc vì chúng mắc chứng tự kỷ (đó là giả thuyết của Bruno Bettelheim, của Uta Frith (9).

J.M.Itard, L.Malson và Roger Shattuck(10) đã gạt bỏ luận điểm về chứng ngu ngốc. Kamala, Victor, Genie, Gaspard tỏ ra hiếu kỳ, khao khát học. Hầu hết những đứa trẻ ấy có những tiến bộ mà người ta không thấy có ở những đứa ngu đần thật. Còn về chứng tự kỷ, chính bà U.Frith cũng chuẩn đoán Victor như vậy(11) nhưng gạt bỏ điều đó ở Gaspard và Genie. T.Gineste cho rằng như vậy là đi quá xa, ông bác bỏ sự chẩn đoán về chứng tự kỷ.

Ngày nay cuộc tranh luận chủ yếu là về tâm lý học: khi nghiên cứu những đứa trẻ ấy, người ta tìm cách xác định xem những cái thiếu của môi trường đã có những hệ quả nào, và chúng có thể được đảo ngược lại ở mức nào(12). Còn về những cái thiếu ấy, người ta nhận xét giống nhau.

Các chứng dị thường vận động (anomalies motrices): những đứa trẻ hóa thành động vật đi bốn chân, những đứa trẻ khác thì đi lại khá khó khăn (Anna, Genie, anh em sinh đôi ở Koloucheva).

Các chứng dị thường về tri giác cảm giác: lúc đầu người ta tưởng Victor bị điếc, Anna mù và điếc; Gaspar, Kamala nhìn rất rõ ban đêm; tất cả những “đứa trẻ động vật” và cả Genie và Victor đều không có cảm giác về nóng và lạnh. Và nhất là hoàn toàn không có hay gần như không có ngôn ngữ. Về trí tuệ, theo David Skuse, nó luôn luôn bị thiếu hụt, nhưng trí tuệ nói bị yếu kém hơn trí tuệ không gian.

Như vậy, bị mất đi sự tiếp xúc của con người, những đứa trẻ ấy thoái hóa đi cho đến khi có vẻ bị mắc chứng ngu ngốc, thậm chí ứng xử như thú vật. Nhưng tính co dãn này có diễn ra theo hai hướng không. Câu trả lời là: có, nhưng...

Có vì rất hiếm thấy những đứa trẻ nào, khi được nhặt về, lại không có tiến bộ, thậm chí có những trường hợp phục hồi hoàn toàn: bé gái Sogny, Gaspard và 6 trên 9 trường hợp được D.Skuse nghiên cứu. Nhưng trong phần lớn các trường hợp, có sự phục hồi từng phần, với một sơ đồ bất biến: những tiến bộ nhanh chóng, rồi đạt tới trần, nhất là trong việc học ngôn ngữ.

Tại sao? D.Skuse thử nhận biết các nhân tố thuận lợi và bất lợi. Trong số các yếu tố bất lợi, ông dẫn ra tình trạng thiếu ăn, nhất là khi bị thiếu ăn sớm và kéo dài (Genie, Anna), và có lẽ cả tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng - nhưng không rõ rệt lắm. Trong số các nhân tố thuận lợi, có việc bị cô lập không hoàn toàn: bé gái Sogny, hai cặp sinh đôi được D.Skuse dẫn ra; và khi hết bị cô lập, đã “hình thành ra một sự gắn bó chặt chẽ với riêng một người trưởng thành”.

Những đứa trẻ hoang dã dạy cho chúng ta cái gì?

Một vấn đề trung tâm đặt ra: những khả năng tập luyện có bị giới hạn không, khi bước qua một tuổi nào đó, như những người chủ trương “thời kỳ nhạy cảm” nghĩ? Có thể, ít ra là những gì do trường hợp Genie gợi ra.

Biên bản đầu tiên về ngôn ngữ của nó sau một năm thật khích lệ: bé đã tiếp thụ được những khái niệm ngữ pháp, đã biết đặt những câu theo quy tắc, một điều then chốt đối với các nhà ngôn ngữ học. Người ta đã tưởng rằng đó là những luận điểm của E.Lenneberg được đẩy sâu hơn...

Than ôi, thay vì bùng phát như ở những đứa trẻ bình thường, ngôn ngữ của Genie chỉ tiến bộ rất chậm. Chẳng hạn bé không bao giờ đặt đúng những câu hỏi. Khi làm những trắc nghiệm thần kinh học ở bé, S.Curtis đã có một sự khám phá: bán cầu trái, thường cai quản ngôn ngữ, ít được sử dụng, dường như kém phát triển hơn bán cầu kia.
Chàng trai rừng xanh Tarzan - nhân vật hư cấu (Anton Zetterholm) thủ vai
Chàng trai rừng xanh Tarzan - nhân vật hư cấu (Anton Zetterholm) thủ vai

Do đó, các nhà ngôn ngữ học đưa ra một giả thuyết: nếu bộ não cấu trúc ra ngôn ngữ, thì điều ngược lại cũng đúng; do thiếu một sự kích thích bằng ngôn ngữ vào một thời điểm thích hợp, bộ não không phát triển các cấu trúc thích hợp, và một sự tập luyện ngôn ngữ bình thường trở nên không thể được.

Dựa vào giả thuyết này, người ta có thể dẫn ra những thí nghiệm trên động vật. Người ta đã vạch ra(13) rằng, ở những con chuột nuôi trong một môi trường phong phú hơn, thì có vỏ não nặng hơn, dày hơn ở những con chuột khác; rằng chim thường cất giữ thức ăn cho mùa đông và cần tới một trí nhớ lớn để tìm thấy lại thức ăn đó, một cấu trúc não - dưới đồi (hipocampe) phát triển nhiều - nhưng điều này không xảy ra khi người ta ngăn cản chúng giấu đi (14).

Đúng là thế. Nhưng ở con người, thí nghiệm ấy bị cấm (15) và một sự khái quát hóa chỉ từ một sự quan sát những đứa trẻ hoang dã phải thật thận trọng, do sự khác nhau của các trường hợp và do thiếu những dữ kiện. Thử nêu ra một điều: những đứa trẻ hoang dã cho thấy một sức bền va đập (rélience) nổi bật (16). Điều này đã được việc nghiên cứu những đứa con nuôi muốn xác nhận, khiến cho các nhà nghiên cứu như hai vợ chồng Clarke bị phản đối (17) vì đã chống lại định đề nổi tiếng: “Tất cả đều xảy ra trước 6 tuổi”.

Nguồn: Claude Bert/Bee
(Việt Chung dịch. Theo Văn hóa Nghệ thuật)

4. T.Gineste, Genie, Annales de l’Université populaire du Sud- Rouergue, 1994.
5. Seuil, 1979 (xuất bản lần đầu năm 1957)
6. R.Rymer, Genie: histoire d’ une enfant victime de son pere et de la science. Laffont, 1993.
7. B.Evans, Histoire naturelle des sottises, Plon, 1961.
8. B.Bettelheim, Laforteresse vide, Gallimard, 1969.
9. U.Frith, L’Enigme de l’autisme, Odile Jacob, 1989.
10. R.Shattuck, The Forbiden Experiment, the story of wild boy of Aveyron, Washington Square press, 1980.
11. Ông phản bác từng điểm một trong các luận cứ của Howard Lane, tác giả một cuốn sách cổ điển khác về Victor, The Wild boy of Aveyron, Harvard University Press, 1976.
12. D.Skuse, Extreme deprivation in early childhood, Journal of psychology and psychiatry, Vo.25, no 4, 1984.
13. M.R.Rosnzweig..., Brain changes in response to experience, Scientific American, 226, no 2, 1972.
14. J.R.Krebs..., The ecolgy of the avian brain..., như trên, no 138, 1996.
15. Những thí nghiệm như vậy đã được tiến hành với những thời gian không được tính vào cuộc đời con người: người ta đã thử ba lần cô lập những đứa trẻ sơ sinh, không để cho ai nói chuyện với chúng, với hy vọng khám phá “ngôn ngữ tự nhiên” của con người...
16. Đối với nhà tâm lý học Mỹ E.Wermer, đó chính là khả năng của một số trẻ em chống lại stress của những hoàn cảnh gia đình khó khăn. Một cách thật nghịch lý, chúng lại tỏ ra cởi mở, dễ hòa đồng, dễ sống... Về sức bền va đập, xem B.Cyrulnik, Un merveilleux malheur, Odile Jacob, 1999.
17. A.M và A.D.B. Clarke, Early experience: Myth and evidence, Open books, 1976.