Những tấn thảm kịch bi thương nhất trong hoàng tộc VN (kỳ 2)

16/07/2012 - 14:46
A A

Vì ghen tuông nhi nữ thường tình hay mưu đồ chính trị, bà hoàng tài sắc và uyên bác bậc nhất triều Lý là Nguyên phi Ỷ Lan đã phạm sai lầm nghiêm trọng, gây ra vụ tàn sát hàng loạt người vô tội.

Vì ghen tuông nhi nữ thường tình hay mưu đồ chính trị, bà hoàng tài sắc và uyên bác bậc nhất triều Lý là Nguyên phi Ỷ Lan đã phạm sai lầm nghiêm trọng, gây ra vụ tàn sát hàng loạt người vô tội.

>> Những tấn thảm kịch bi thương nhất trong hoàng tộc VN (kỳ 1)

Nguyên phi Ỷ Lan bức chết Dương Thái hậu cùng 76 thị nữ

Sử sách chép: năm 1072, Vua Lý Thánh Tông qua đời, Thái tử Càn Đức (con đẻ của Ỷ Lan Nguyên phi) mới 6 tuổi lên nối ngôi, hiệu là Lý Nhân Tông (1072-1127). Ỷ Lan được tôn phong Linh Nhân Thái phi, còn hoàng hậu họ Dương là Thượng Dương Hoàng thái hậu - đã dựa vào thế lực của Thái sư Lý Đạo Thành, gạt Ỷ Lan ra khỏi triều đình. Ngoài ra, lễ xưa cũng quy định, hễ hoàng đế lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi thì thái hậu được quyền nhiếp chính, nhưng Dương Thái hậu lại không phải là mẹ đẻ của Lý Nhân Tông, điều đó càng khiến Linh Nhân Thái phi căm tức. Đến năm 1073, một vụ tàn sát bi thảm đã diễn ra, mà nạn nhân chính là Dương Thái hậu cùng 76 thị nữ (cũng có sách nói chỉ có 72 thị nữ).

Đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan. Ảnh: internet

Sách Đại Việt sử kí toàn thư ghi: Linh nhân có tính hay ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với Vua rằng: Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý thì người khác thưởng, vậy con để mẹ già vào đâu? Vua bèn sai giam Dương Thái hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương rồi bức phải chết, cho chôn theo lăng của Thánh Tông.

Phân tích bản chất vụ án này, trong cuốn Chuyện tình các vua chúa Việt Nam, TS Đinh Công Vỹ một mực cho rằng, Nguyên phi Ỷ Lan đã phạm tội “giết người hàng loạt”, đã giết hại vợ cả của chồng. “Sự tham lam quyền lực, sự ích kỉ cá nhân đã giết chết hết mọi nhân tính của Ỷ Lan”, TS Vỹ nhận xét.

Nhà sử học Lê Văn Lan và TS Phật học Thích Đức Thiện, trụ trì chùa Phật Tích, đều cùng chung một cái nhìn nhân ái về việc này: "Trong sự nghiệp làm chính trị thì âu đấy cũng là chuyện thường thấy…". Trước đó, sử thần Ngô Sĩ Liên cũng giải thích: “Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết Thái hậu, hãm hại người vô tội đến mức tàn nhẫn như thế? Ấy vì ghen là tính thường có của đàn bà, huống chi lại là mẹ đẻ mà không được dự chính sự. Linh Nhân dẫu là người hiền cũng không thể nhẫn nại được, cho nên phải kêu với Vua. Bấy giờ, Vua còn trẻ thơ, chỉ biết chiều lòng mẹ là thích mà không biết là lỗi to…”.

Tuy nhiên, động cơ thực sự là thế nào thì vì vụ án oan trên, dù được coi là phụ nữ không chỉ có sắc đẹp, mà có tài và uyên bác bậc nhất của nước Việt, Nguyên phi Ỷ Lan vẫn bị các nhà chép sử xưa không muốn nhắc nhiều đến những công đức của bà trong việc góp phần xây dựng nên một nền văn hóa rực rỡ thời Lý.

Cái chết oan khuất của Quốc phụ thượng tể Trần Quốc Chẩn

Theo sử cũ, Trần Quốc Chẩn là con thứ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, em vua Trần Anh Tông (1293 - 1314). Ông không chỉ là người có tài trong việc cầm quân xung trận, mà còn là người nổi tiếng đức độ, được các quan trong triều hết lòng nể phục. Ông được vua Trần Anh Tông hết mực tin cậy. Khi vua con Minh Tông nối ngôi, vào năm Quý Hợi (1323), con gái của Quốc Chẩn đã được lập làm Hoàng hậu Lệ Thánh.

Cùng với việc con gái được sách phong, năm Khai Thái thứ nhất, Trần Quốc Chẩn được phong Nhập nội Quốc phụ thượng tể, chức quan đầu triều, trông coi lục bộ thượng thư. Thế nhưng, quyền cao chức trọng là vậy, song liên quan tới chuyện con gái vẫn mãi chưa sinh hạ hoàng nam cho hoàng thượng, mà Quốc phụ thượng tể đã mất mạng thật oan khuất.

Đền thờ Nhập nội Quốc phụ Th­ượng tể Trần Quốc Chẩn
ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ảnh: internet

Chuyện cụ thể như sau: Khi Vua Minh Tông ở ngôi 15 năm, Hoàng hậu Lệ Thánh vẫn chưa sinh hạ hoàng nam, nhưng các phi tần khác đều đã có con, gồm: hoàng tử Vượng lớn nhất, tiếp đến là hoàng tử Nguyên Trác, hoàng tử Phủ, hoàng tử Kính... Trong triều chính luận bàn nhiều về ngôi vị thái tử. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: Quốc Chẩn tự nhận mình là cố mệnh đại thần, lại là bố đẻ của Hoàng hậu Lệ Thánh, nên cố chấp là đợi khi nào Hoàng hậu sinh con trai trưởng sẽ lập làm thái tử. Văn Hiến hầu (con của Trần Nhật Duật, không rõ tên) muốn đánh đổ Hoàng hậu để lập Hoàng tử Vượng, bèn lấy 100 lạng vàng đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Phẫu, xúi Trần Phẫu vu cáo Quốc Chẩn âm mưu làm phản.

Nhà vua tin lời Trần Phẫu, bắt Quốc Chẩn giam ở chùa Tư Phúc, rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung vốn cùng bè đảng với Văn Hiến hầu, lại là người cùng làng với mẹ đẻ của Vượng (bà Minh Từ Thái phi, người họ Lê, quê ở Giáp Sơn); hơn nữa, Khắc Chung từng giữ chức Sư phó để dạy Vượng, vì thế ông liền tâu ngay bằng câu thành ngữ: Tróc hổ dị, phóng hổ nan (bắt hổ dễ, thả hổ nguy). Nhà vua bèn cấm tuyệt không cho Quốc Chẩn ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu phải thấm nước vào áo đưa đến cho uống. Quốc Chẩn uống xong thì mất. Những người bị bắt lây lên đến hơn hai trăm, khi tra hỏi, ai cũng kêu gào là oan.

Vài năm sau, vợ cả, vợ lẽ của Trần Phẫu ghen nhau, đem việc Văn Hiến hầu đút lót vàng ra tố cáo. Nhà vua giao việc này cho quan giữ việc hình ngục là Lê Duy xét hỏi. Lê Duy là người cương trực, lập tức tra xét ngay. Trần Phẫu phải tội lăng trì (tức xẻo thịt từng miếng cho đến chết), nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô của Thiệu Vũ (con Quốc Chẩn) đã xẻo thịt Trần Phẫu ăn sống gần hết. Văn Hiến Hầu tuy được tha tội chết, nhưng giáng làm thứ nhân, tước bỏ tên họ trong hoàng tộc.

Có thể nói, trong cuộc đời mình, Vua Trần Minh Tông lúc nào cũng bị ám ảnh bởi vụ án oan của cha vợ. Để sửa sai, nhà vua đã cho khôi phục chức tước, sai lập đền thờ Trần Quốc Chẩn, thậm chí còn làm thơ để tự trách mình: Thu khí hòa đăng thất thự minh/ Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh/ Tự tri tam thập niên tiền thác/ Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh. Tạm dịch: Hơi thu và ánh đèn mờ đi trước ánh ban mai/ Tàu chuối xanh ngoài cửa sổ tiễn canh tàn/ Tự biết sai lầm của ta ba mươi năm trước/ Đành ôm sầu ngồi nghe mưa rơi.

Vĩnh Khang