Tôi “làm báo” (Kỳ 3)

21/06/2011 - 21:26
A A

Hôm về lại Tức Dụp sau Mậu Thân, một hôm Phó ban tôi đi họp báo Tỉnh ủy về, ông kêu tôi nói: “Tòa quân sự vùng 4 kêu án tử hình hai chiến sĩ biệt động Long Xuyên là anh Út Đường và anh Mười Thành.

>>Tôi “làm báo” (Kỳ 1)


>>Tôi “làm báo”(Kỳ 2)

Hôm về lại Tức Dụp sau Mậu Thân, một hôm Phó ban tôi đi họp báo Tỉnh ủy về, ông kêu tôi nói: “Tòa quân sự vùng 4 kêu án tử hình hai chiến sĩ biệt động Long Xuyên là anh Út Đường và anh Mười Thành. Mầy viết Tuyên bố với danh  nghĩa Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh để ngăn nó thi hành án”. Tôi viết theo kiểu du kích quân Ca-ra-cát bắt Đại tá Mỹ Xmô-len đổi mạng cho anh Nguyễn Văn Trỗi. Nhưng trong tay của tỉnh không có tên tù binh nào thì đổi làm sao? Tôi bèn lách: “Nếu chánh quyền Sài Gòn thi hành bản án thì người của họ đang trong tay chúng tôi cũng phải bị trừng trị để  đổi mạng”. Ông hỏi tôi có tù binh nào không, tôi nói làm gì có, nhưng cái tỉnh nầy mênh mông làm sao nó biết người của nó đang bị “trong tay” ta là như thế nào, là ai. Trong tay nghĩa là trong tầm khống chế hoặc đang là tù binh, nó mơ hồ hơn là tù binh và cũng không nhất thiết là chỉ trong tay Mặt trận tỉnh An Giang. Ông khen tôi sáng ý. Tôi trực tiếp phát sóng hỏa tốc lên LPA và Đài Giải phóng phát ngay. Không hiểu bản tuyên bố có ý nghĩa thật sự thế nào hay do phong trào nhân dân mà chúng ngưng thi hành án tử, đày các anh ra Côn Đảo để sau Hiệp định Paris trao trả hai anh về. Sau nầy có người viết lại tôi đọc thấy nói ta kêu đổi mạng tù binh Mỹ. Nói như thế rất nguy hiểm. Họ thấy thông tin nầy sẽ nói ta còn giam giữ tù binh thì rắc rối cho ngoại giao biết mấy.

 

     Có lẽ vì những sơ sót đại loại như vậy mà dân gian có câu: “Nhà báo nói láo ăn tiền”. Tôi thì cũng mấy lần “nói láo” có lợi cho cách mạng và cũng cho đỡ buồn. Số là trong “chiến dịch Cửu Long I” - năm 1970, quân đội Sài Gòn bao gồm thủy - lục - không quân càn qua biên giới Campuchia, tỉnh phải phân tán lực lượng tránh mũi xung yếu của địch. Bộ phận Đài Minh ngữ tôi tách ra áp sát biên giới “chém vè” cách đồn Vĩnh Hội Đông không xa. Tôi lên máy đều đặn liên lạc với Khu và R chuyển tin từ đài lẻ ở chiến trường Bảy Núi do anh Ba Nhu và Chín Lĩnh đưa về. Lúc nầy nguồn tin lấy từ văn phòng Tỉnh ủy bị gián đoạn nên không có tin của toàn tỉnh. Hàng ngày, ngồi buồn thấy xa xa máy bay trực thăng đổ quân và càn bố, ném bom các phum, sóc trên đất  Campuchia, tôi “sáng tác” tin quân và dân cách mạng Campuchia đánh lính Lon Non có lính Thiệu-Kỳ phối hợp càn quét, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Hoặc thấy ném bom nhiều quá thì “tố cáo” tội ác Lon Non-Thiệu-Kỳ gây ra cho người dân Campuchia… Tôi nêu sự kiện là hoàn toàn chính xác, nhưng số thiệt hại cụ thể của hai phía thì không sáng tác được như đài Sài Gòn lúc ấy: B52 rải thảm bom, đếm được xác Việt cộng, có một Huyện ủy viên thì là dóc tổ.

 

     Các đài mật của tỉnh đều ngừng lên sóng, gián đoạn liên lạc với Khu và huyện ngắt quãng nhiều ngày do bị địch càn quét, nhưng riêng Đài Minh ngữ thì liên tục phát sóng. Tôi biết trước thế nào thám không nó cũng biết và khoanh vùng để đánh Đài Minh ngữ. Nó đánh thật. Nhưng không biết mục tiêu đâu vì toàn đồng cỏ nên đánh kiểu “giậm gò bắt chuột”. Nó phải dùng một phi đội trực thăng càn tốc các lùm cỏ cao trong vùng, làm đứt sợi ăngten của tôi mà chúng tôi vẫn bình yên. Suốt thời kháng chiến, chúng chưa bao giờ hơn tôi về “tâm lý” nhận dạng địa hình đồng cỏ để tìm diệt đúng điểm, nên cơ quan tôi luôn an toàn. Sau trận nầy Phân xã và Đài Minh ngữ được thưởng Huân chương Giải phóng hạng Ba. Quý lắm vì suốt mùa kháng chiến, các bộ phận trực thuộc, kể cả Ban Tuyên huấn chỉ có một tấm huân chương nầy là duy nhất.

  

Tôi nghe đài địch thì phân loại được tin. Nhưng nghe đài phe ta chửi nhau tối mặt tôi cũng chán. Phải thừa nhận rằng dốt như tôi mà có nhiệt tình cách mạng thì dễ nhiễm đài Bắc Kinh lúc bấy giờ. Tôi khoái nghe và thích cái kiểu nhân danh “lập trường cách mạng” của đài Bắc Kinh, độc quyền chánh nghĩa (mà bây giờ cũng vậy) quy chụp đối thủ quá  đanh thép mà nhiễm Mao-ít hồi nào không hay nên khoảng 1965, giữa lúc các chi bộ học “tố khổ” tôi giã từ đài Matxcơva trước. Nhưng có lần nghe Phi-đen chửi Trung Quốc mấy ngày liền mà TQ làm thinh, tôi cảm thấy TQ có vấn đề. Vả lại nghe cái kiểu chửi mắng lúc đầu hùng hồn thì thích, dần rồi thấy lố bịch và thô lổ tôi cũng bắt đầu chán đài Trung Quốc. Tháng 6-1966, một đêm nằm trên gò đìa giữa Đồng Tháp Mười, vừa nghe đài Bắc Kinh, vừa cảnh giác máy bay B-57 thả bom tọa độ. Nghe đài chửi: “Tư lệnh Hạm đội Liên Xô đứng trước mũi chiến hạm đưa tay chào Hạm đội 7 của Mỹ giữa Thái Bình Dương”. Tôi tự hỏi: Vậy phóng viên Tân Hoa Xã đứng ở đâu mà thấy rõ vậy?! Liền đêm sau, cũng đài Bắc Kinh nói một thực tập sinh Việt Nam bị máy phay chặt đứt lìa cánh tay, bác sĩ Trung Quốc nối thành công, một tuần sau xách nổi một ký lô. Phỏng vấn, bác sĩ trưởng ca mổ nói: “Nhờ có tư tưởng Mao Trạch Đông”. Trời đất! Đến đây thì tôi vĩnh biệt cái đài “nói dóc có lý lẽ” số một thế giới nầy.

 

     Ngày xưa trong kháng chiến cấp trên cũng có cấm nghe đài địch, trừ cán bộ lãnh đạo và người đựơc phân công như tôi. Nhưng anh em vẫn thỉnh thoảng lén nghe Út Trà Ôn, Lệ Thủy… hát vọng cổ trên đài Sài Gòn. Vậy có sao đâu. Duy có lần tôi nghe một anh bạn trên R nói: Trên đó có một người cũng được phân công lọc “Tin tham khảo”, nghe đài địch như tôi, một thời gian, không hiểu sao anh ta xin nghỉ. Bây giờ hay nói “tự diễn biến” có phải  bắt nguồn từ đây chăng? Riêng tôi thấy rằng đọc nhiều đỡ dốt. Cái tâm mình là chánh. Có tâm, tự nó sẽ tạo ra “miễn dịch”. Về chánh trị, có ai đọc và nghe mà theo đâu, trừ phi thực tế họ thấy giống như cái họ đọc họ mới tin và theo chớ. Tư bản đọc để chống Mác, nhưng vì chống mà làm theo nhiều luận điểm của Mác để tự cứu CNTB không “giãy chết”. Sống khỏe hơn trước. Nhiều đồ đệ của Mác đọc Mác mòn chữ mà làm hoài không thấy thành công rồi “tự diễn biến” chớ sao. Buồn cười có kẻ khi không còn tin ai thì chỉ còn nước tin vào Chúa Giê-su, vào Phật Như Lai, thậm chí tin cả ma quỷ nửa là. Đó mới thật là “tự diễn biến” về chất - chất thánh thiện không còn.

 

     Ngày xưa, đài Sài Gòn ra rả nói xấu “Việt cộng” và lớn tiếng: “Bà con đừng tin những gì Việt Cộng nói, hãy coi Việt Cộng làm” nhưng dân không tin mà còn thấy ngược lại nhiều người trong bộ máy Thiệu làm xấu hàng ngày: Ức hiếp dân, nghi oan bắt bậy và tra trấn dã man; còn đạo đức thì tham ăn, tham nhũng, bè phái, cờ bạc, gái gun, vợ nhỏ v.v…Còn “Việt cộng” là con cháu trong làng, là những cán bộ được quý trọng. Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, dần dần giữa nói và làm của cán bộ ta nói chung càng xa rời nhau mà người phát hiện và đề ra thành mục “Nói và làm “ trên báo Đảng - Báo Nhân Dân là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh của Đại Hội VI đã quyết liệt đến mức nào nhưng căn bệnh xem chừng chưa thuyên giảm. Nói riết chưa chắc dân nghe, nhưng làm một lần là dân thấy. Mới đây một nông dân ở Chợ Mới nói với tôi: “Ước gì có dịp tôi đến nhà một người ở Sài Gòn để đốt một nén nhang. Không nhờ ông đó thì dân mình chết đói”. Tôi hỏi ai? - “Ông Nguyễn Văn Linh”! Dân là vậy đó, họ có nghe ông nói, có gặp ông đâu, nhưng dân biết việc ông làm mà hiểu rằng ông vì dân chớ không phải vì cái gì khác.

 

(Còn tiếp)

NGUYỄN MINH NHỊ