Cần hiểu đúng về xe “chính chủ”

20/01/2022 - 03:47

 - Vấn đề xử phạt “xe không chính chủ” không phải là quy định mới, mà đã được áp dụng từ năm 2016 tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên, vẫn còn không ít người dân chưa hiểu rõ về lỗi “xe không chính chủ”, sợ đi xe người khác đứng tên sẽ bị xử phạt. Để góp phần giúp người tham gia giao thông hiểu đúng về chuyện xe “chính chủ”, phóng viên Báo An Giang có cuộc trao đổi với thượng tá Nguyễn Thanh Vân, Phó Trưởng phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ (Công an tỉnh) về vấn đề này.

A A

P.V: Quy định về sang tên phương tiện được thực hiện như thế nào?

Thượng tá Nguyễn Thanh Vân: Nhằm tạo điều kiện cho người dân sở hữu “xe chính chủ”, cũng như hướng dẫn người dân tuân thủ luật, tránh bị xử phạt, Bộ Công an cho phép người dân sang tên xe qua nhiều đời chủ, kể cả khi không có giấy tờ chuyển quyền sở hữu (mua bán, cho tặng…). Theo Thông tư 58/2020/TT-BCA quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (có hiệu lực từ ngày 1-1-2022), phương tiện (gồm: Xe môtô, xe máy và ôtô) đã chuyển quyền sở hữu qua nhiều người (nhưng thiếu hoặc không có giấy tờ chuyển quyền sở hữu) được giải quyết đăng ký, sang tên đến hết ngày 31-12-2021.

Từ ngày 1-1-2022, dừng tiếp nhận hồ sơ giải quyết đăng ký sang tên cho các xe qua nhiều đời chủ mà không đầy đủ giấy tờ, không tìm được chủ gốc. Ngoài ra, trong thời hạn 30 ngày (kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu), tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển cho, tặng, được phân bố thừa kế xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục cấp đăng ký biển kiểm soát. Nếu không, sau thời hạn này sẽ bị xử phạt theo quy định. Khi đó, người sở hữu xe sẽ bị lực lượng CSGT phạt lỗi “xe không chính chủ” thông qua công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông, đăng ký xe hoặc bị phát hiện, xử lý nếu vi phạm Luật Giao thông đường bộ.

P.V: Như vậy, CSGT sẽ xử phạt “xe không chính chủ” như thế nào khi tham gia giao thông? Việc vợ chồng, bạn bè, cha con... mượn xe nhau đi ra đường có bị xử phạt?

Thượng tá Nguyễn Thanh Vân: Luật Giao thông đường bộ quy định, phương tiện lưu thông trên đường phải có các loại giấy tờ, như: Giấy đăng ký xe; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường còn hiệu lực (đối với xe ôtô); Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, xe phải có biển kiểm soát... Người điều khiển phương tiện phải có Giấy phép lái xe phù hợp với loại phương tiện đang điều khiển.

“Xe không chính chủ” sẽ bị xử phạt trong 2 trường hợp: Một là, khi đi đăng ký, đăng kiểm xe, cơ quan chức năng phát hiện xe đã quá thời hạn chuyển nhượng (nếu quá 30 ngày không đăng ký sẽ bị phạt theo lỗi không sang tên đổi chủ). Hai là, khi xảy ra va chạm hoặc tai nạn giao thông, cần phải có chính chủ xe đến giải quyết. Nếu xe không chính chủ sẽ bị xử phạt.

Theo Nghị định 100/NĐ-CP, lỗi không chính chủ với xe môtô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe môtô bị phạt tiền từ 400.000-600.000 đồng đối với xe cá nhân, từ 800.000-1,2 triệu đồng đối với tổ chức. Với xe ôtô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ôtô, mức phạt tương ứng là 2-4 triệu đồng đối với cá nhân và từ 4-8 triệu với tổ chức. Không có quy định nào xử phạt người đi mượn xe hay trong một nhà, vợ, chồng, con cái, anh em đi xe của nhau, chỉ cần có Giấy đăng ký xe là được.

P.V: Khi sử dụng “xe không chính chủ”, người dân gặp phải những khó khăn gì?

Thượng tá Nguyễn Thanh Vân: Người dân cần nhận thức được việc sang tên đổi chủ phương tiện là bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình. Để tránh gặp rắc rối về pháp lý phát sinh, cơ quan chức năng khuyến cáo, cả người sang nhượng xe và người sở hữu xe nên làm đúng quy định pháp luật về sang tên đổi chủ xe. Khi xe bị tạm giữ do vi phạm luật giao thông hoặc gây tai nạn giao thông, thậm chí là các vấn đề pháp lý hình sự (như: Xe liên quan đến trộm cắp, cướp giật, án mạng…), cơ quan công an sẽ truy tìm theo thông tin đăng ký xe. Chủ xe phải tiếp tục chịu trách nhiệm liên đới về mặt hành chính cũng như hình sự nếu như xe sau khi đã bán, cho, tặng không sang tên chủ mới; xe nằm trong diện tranh chấp, khởi tố hoặc điều tra vụ việc liên quan.

Với những xe bị tạm giữ, theo quy định chỉ có người đứng tên trên giấy tờ mới có quyền lấy lại xe. Sẽ rất rắc rối đối với người sử dụng xe nếu chủ xe ở xa, qua đời hoặc xe sau mua, bán, cho, tặng mà không thể liên lạc được với chủ xe. Trường hợp cần hướng dẫn, hỗ trợ cụ thể, người dân có thể liên hệ cơ quan chuyên môn.

P.V: Xin cám ơn thượng tá Nguyễn Thanh Vân!

Bài, ảnh: NGUYỄN HƯNG