Chính sách mới về bảo hiểm xã hội bắt buộc

14/09/2021 - 07:25

 - Từ ngày 1-9-2021, Thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH sửa đổi Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) về BHXH bắt buộc chính thức có hiệu lực. Một số nội dung đáng chú ý dưới đây.

A A

Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bổ sung quy định: “Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn đồng thời là người giao kết hợp đồng lao động quy định tại Điểm a và Điểm b, Khoản 1, Điều 2 Luật BHXH thì tham gia BHXH bắt buộc theo đối tượng quy định tại Điểm a và Điểm b, Khoản 1, Điều 2 Luật BHXH”. Điều này có nghĩa, người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn đồng thời là người giao kết hợp đồng lao động sẽ đóng BHXH bắt buộc theo mức 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất. Mức tiền lương hàng tháng làm căn cứ đóng BHXH này sẽ dựa theo hợp đồng lao động đã ký, nhưng tuân theo nguyên tắc không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động (NLĐ) làm công việc giản đơn nhất.

Làm rõ trường hợp hưởng trợ cấp 1 lần khi sinh con với lao động nam

Khoản 5, Điều 1 Thông tư 06/2021, bổ sung Điểm c, Khoản 2, Điều 9 Thông tư 59/2015, như sau: Trường hợp người mẹ tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con mà người cha đủ điều kiện quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 9 Thông tư 59/2015) thì người cha được hưởng trợ cấp 1 lần khi sinh con theo Điều 38 Luật BHXH.

Việc bổ sung quy định này nhằm làm rõ quy định về trợ cấp 1 lần khi sinh con tại Điều 38 Luật BHXH (trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp 1 lần bằng 2 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con). Như vậy, trường hợp cả 2 vợ chồng cùng tham gia BHXH mà người vợ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản thì người chồng đóng BHXH đủ 6 tháng (trong 12 tháng trước khi sinh con) sẽ được hưởng trợ cấp 1 lần khi sinh con bằng 2 tháng lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con.

Về điều kiện hưởng lương hưu

Do điều kiện hưởng lương hưu từ ngày 1-1-2021 đã thay đổi, nên một số nội dung hướng dẫn tại Điều 15 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH không còn phù hợp. Nay, Thông tư 06 sửa đổi hướng dẫn về việc xác định thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và làm việc ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1-1-2021. Từ đó, làm căn cứ xét điều kiện giải quyết chế độ hưu trí quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 54 Luật BHXH 2014 (đã được sửa đổi, bổ sung), như sau: đối với NLĐ thuộc đối tượng trên, thời gian NLĐ phải nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động do bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp (được người sử dụng lao động nơi NLĐ bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trả đủ tiền lương và đóng đầy đủ BHXH) thì được tính.

Thời gian NLĐ được cử làm việc, đi học, hợp tác lao động mà không làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ LĐ-TB&XH ban hành hoặc làm việc ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn (bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1-1-2021) thì không được tính. Thời gian NLĐ đóng 1 lần cho thời gian còn thiếu vào quỹ hưu trí và tử tuất để hưởng lương hưu thì không được tính.

Đối với NLĐ có thời gian công tác tại chiến trường B, C trước ngày 30-4-1975 và chiến trường K trước ngày 31-8-1989 thì thời gian này được tính là thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 để làm căn cứ xét điều kiện giải quyết chế độ hưu trí.

Về tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng lương hưu

Khoản 19, Điều 1 Thông tư 06/2021 bổ sung Khoản 3a sau Khoản 3, Điều 20 Thông tư 59/2015, như sau: khi tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp 1 lần mà có thời gian đóng BHXH trước ngày 1-10-2004 theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH của thời gian này được chuyển đổi theo chế độ tiền lương tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí, tử tuất.

Riêng đối với NLĐ có thời gian làm việc trong doanh nghiệp đóng BHXH theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định mà hưởng BHXH từ ngày 1-1-2016 trở đi thì tiền lương tháng đóng BHXH trước ngày 1-10-2004 nêu trên được chuyển đổi theo tiền lương quy định tại Nghị định 205/2004/NĐ-CP.

Bổ sung quy định về trường hợp hưởng trợ cấp tuất hàng tháng

Khoản 23, Điều 1 Thông tư 06/2021 bổ sung cuối Khoản 1, Điều 25 Thông tư 59/2015, như sau: thời điểm xem xét tuổi đối với thân nhân của NLĐ theo quy định tại Khoản 2, Điều 67 Luật BHXH là kết thúc ngày cuối cùng của tháng NLĐ chết. Khi giải quyết chế độ tử tuất, nếu hồ sơ của thân nhân NLĐ không xác định được ngày, tháng sinh thì lấy ngày 1-1 của năm sinh để tính tuổi làm cơ sở giải quyết chế độ tử tuất.

Việc xác định mức thu nhập của thân nhân NLĐ để làm căn cứ giải quyết trợ cấp tuất hàng tháng theo quy định tại Khoản 3, Điều 67 Luật BHXH được xác định tại tháng NLĐ chết. Thân nhân đã được giải quyết hưởng trợ cấp tuất hàng tháng theo đúng quy định mà sau đó có thu nhập cao hơn mức lương cơ sở thì vẫn hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

 K.N