Một đời lo việc chung

02/06/2026 - 06:00

 - Ông Đào Văn Lý, một thương binh - dân tộc Khmer, ngụ ấp 7 Xáng, xã Đông Hòa đã làm nhiều chuyện nghĩa tình cho xóm nghèo từ vận động kinh phí xây đường, bắc cầu đến giúp đỡ hộ có hoàn cảnh khó khăn.

Ông Đào Văn Lý đưa trẻ em trong xóm đến trường bằng chiếc bè. Ảnh: ĐẶNG LINH

Giữa buổi trưa nắng chang chang ở ấp 7 Xáng, chiếc bè nhỏ lắc lư đưa người qua con kênh hẹp. Trẻ em ôm cặp, dắt xe đạp chờ tới lượt để qua kênh. Thấy chiếc bè nghiêng mạnh vì gió, ông Đào Văn Lý vội bước xuống, giữ sợi dây cho bè rồi chậm rãi đẩy qua bờ bên kia. “Con nít đi học mà té xuống kênh thì tội lắm, tập sách ướt hết phải nghỉ học”, ông Lý nói. Ở xóm này, người dân kính trọng ông vì chuyện lớn, nhỏ trong xóm từ làm đường, bắc cầu, vận động học sinh đi học đến chuyện hòa giải mâu thuẫn, người dân đều tìm đến ông.

Năm 18 tuổi, ông Lý thoát ly gia đình tham gia du kích xã Đông Hòa. 3 năm sau, ông được điều động về địa phương quân An Biên rồi tham gia đội bảo vệ Tỉnh ủy cho đến ngày giải phóng. Sau ngày đất nước thống nhất, vì mẹ bệnh nặng nên ông xin về quê chăm sóc rồi gắn bó với ruộng đồng từ đó đến nay. Gia đình có 12 công đất nhưng ông chia gần hết cho 3 người con, chỉ còn lại vài công để làm lúa, nuôi tôm.

Nhiều năm trước, khi địa phương thực hiện chủ trương chuyển đổi từ trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình tôm - lúa để thích ứng tình trạng mặn lấn sâu, cả xóm chia 2 luồng ý kiến. Người chịu làm, người phản đối dẫn đến thưa kiện vì sợ đưa nước mặn vào đồng ruộng không sản xuất lúa được nữa. Ông Lý là một trong những người đầu tiên mạnh dạn làm thử. “Lúc đầu, tôi cũng thất bại chớ đâu trúng liền. Đất còn dính thuốc từ ruộng cũ nên tôm chết hoài, phải gần 3 năm mới rửa sạch”, ông Lý nhớ lại nói.

Thấy ông Lý làm được, nhiều hộ bắt đầu làm theo, từ đó cuộc sống bà con dần khá hơn từ con tôm nước lợ. Ông Tống Văn Hóa - Phó Bí thư Chi bộ, Phó trưởng ấp 7 Xáng nhận xét: “Chú Lý là người có uy tín trong đồng bào Khmer, sống chan hòa, trách nhiệm nên bà con rất tin tưởng. Xóm, ấp có chuyện gì người dân cũng tìm chú Lý. Chú nói chuyện có tình có lý nên bà con tin”.

Điều khiến ông Lý day dứt nhất lúc này là cây cầu bắc qua kênh chưa thành hình. Dọc tuyến kênh dài khoảng 600m có gần trăm hộ dân sinh sống, người lớn qua lại làm ruộng, trẻ con đi học đều phải dùng bè tạm. Cả tuyến có gần chục chiếc bè nhỏ do dân tự chế, gặp hôm gió lớn hay trời mưa ai cũng thấp thỏm. Nhiều năm trước, ông từng vận động bà con góp công, đi xin từng tấm ván cũ về tận dụng để bắc cầu ván, nhưng cầu xuống cấp theo thời gian. Ông Lý nói: “Giờ muốn làm cầu mới chắc tốn cỡ 50 triệu đồng, tôi định vận động từ từ. Có cầu rồi tụi nhỏ đi học đỡ nguy hiểm, bà con chở lúa, chở tôm cũng dễ hơn”.

Có lần thấy học sinh nghỉ học đi làm thuê, ông Lý tìm tới tận nhà động viên. Ông nói với tụi nhỏ bằng những lời chân quê thiệt thà: “Ráng học đi con, nghèo thì càng phải học, sau này mới đỡ cực hơn cha mẹ”. Những năm 1990, khi địa phương vận động đắp nền trường học, ông Lý cũng là người xắn quần đào đất, góp công không nề hà. Nhớ không hết mình từng góp sức làm bao nhiêu nền trường, ông chỉ nhớ có năm đi suốt mấy tháng trời. “Vợ con tôi cũng cằn nhằn hoài, nói ăn cơm nhà mà lo chuyện thiên hạ. Tôi chỉ cười, rồi cố gắng chu toàn việc nhà để bù đắp cho vợ con. Ở đời mình ráng giữ uy tín với bà con, giữ đạo đức với lương tâm của mình”, ông Lý tâm sự.

73 tuổi, ông Lý vẫn chưa thôi lo chuyện xóm làng, vẫn đau đáu xây dựng được cây cầu nhỏ cho người dân qua lại, vẫn sợ học sinh té kênh giữa mùa mưa gió, vẫn đi vận động từng hộ làm đường, kéo điện, sống một đời vì cộng đồng.

ĐẶNG LINH