Áp dụng 2 mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo lộ trình

26/09/2026 - 15:48

Bộ Nội vụ đề xuất áp dụng trực tiếp mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là 0,3% vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tới hết ngày 31/12/2027. Từ thời điểm 1/1/2028, mức đóng được áp dụng bằng 0,5%.

Lao động của Công ty Than Hà Lầm. (Ảnh nhandan.vn)

Lao động của Công ty Than Hà Lầm. (Ảnh nhandan.vn)

Cần đổi mới cơ chế xác định mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo Nghị định quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (thay thế Nghị định số 58/2020/NĐ-CP ngày 27/5/2020 của Chính phủ quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) do Bộ Nội vụ xây dựng.

Theo Bộ Nội vụ, sau hơn 5 năm thực hiện, Nghị định số 58/2020/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định mức đóng vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Tuy nhiên, kết quả tổng kết thi hành cho thấy, cơ chế áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường hầu như chưa được thực hiện trên thực tế do điều kiện áp dụng chặt chẽ, tiêu chí đánh giá phức tạp, hồ sơ, trình tự, thủ tục còn qua nhiều bước, phát sinh chi phí tuân thủ, trong khi mức ưu đãi chưa đủ tạo động lực để doanh nghiệp thực hiện.

day-manh.jpg

Hệ thống khai thác trong hầm lò của Công ty Than Vàng Danh. (Ảnh nhandan.vn)

Do đó, cần thiết đổi mới cơ chế xác định mức đóng theo hướng bãi bỏ điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục xét duyệt mức đóng thấp hơn đối với từng doanh nghiệp và chuyển sang áp dụng trực tiếp mức đóng chung 0,3% trong thời gian xác định.

Việc giảm mức đóng từ 0,5% xuống 0,3%, tương đương giảm 40% mức đóng, vừa tạo mức hỗ trợ rõ rệt cho người sử dụng lao động, vừa cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, phát triển sản xuất, kinh doanh, phù hợp với Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị.

Tuy nhiên, do việc giảm mức đóng làm giảm nguồn thu của Quỹ, trong khi số người hưởng và số chi có xu hướng tăng, chính sách cần được thực hiện trong thời gian xác định, gắn với theo dõi, đánh giá khả năng cân đối Quỹ trước khi xem xét chính sách cho giai đoạn tiếp theo.

Bên cạnh đó, việc bổ sung chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp mới thành lập từ hợp tác xã hoặc chuyển đổi từ hộ kinh doanh, có quy mô lao động nhỏ, là cần thiết nhằm cụ thể hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân và khuyến khích chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.

Gia tăng nhu cầu chi trả từ Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

z8043989560108-540e055f63e9641143485bc89aa4d64b-258.jpg

Hiện trường vụ tai nạn lao động sập tường công trình xây dựng khiến 1 người tử vong ở phường Trấn Biên, Đồng Nai ngày 14/7/2026. (Ảnh nhandan.vn)

Về khả năng cân đối Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp giai đoạn 2020-2025, số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, trong 6 năm, toàn quốc đã giải quyết hưởng mới trợ cấp một lần cho 29.733 người và trợ cấp hằng tháng cho 11.671 người. Bình quân mỗi năm giải quyết hưởng mới trợ cấp một lần cho khoảng 4.956 người và trợ cấp hằng tháng cho khoảng 1.945 người. Kết quả này cho thấy, nhu cầu chi trả từ Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tiếp tục gia tăng cả về số người hưởng và số tiền chi.

Trong giai đoạn này, Quỹ bảo đảm khả năng cân đối, số thu hằng năm cao hơn đáng kể số chi. Kết quả này cho thấy Quỹ có khả năng đáp ứng yêu cầu chi trả các chế độ và có dư địa để xem xét điều chỉnh mức đóng trong thời gian xác định.

Tuy nhiên, do số người hưởng và số chi có xu hướng tăng, đồng thời trong chính sách chi dự kiến trong dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) có thể sẽ tăng chi chế độ cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chưa kể việc mở rộng đối tượng và hòa đồng với khu vực không có quan hệ lao động, mở rộng các hoạt động phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thì việc điều chỉnh mức đóng cần được thực hiện thận trọng, có thời hạn và gắn với việc theo dõi, đánh giá tình hình thu, chi hằng năm nhằm bảo đảm an toàn và khả năng cân đối lâu dài của Quỹ.

Sẽ có 2 mức đóng theo lộ trình, bổ sung quy định về mức đóng 0%

1-bao-dam-cung-ung-dien-trong-nhung-ngay-phu-tai-lap-dinh-1-170.jpg

Lao động ngành điện. (Ảnh nhandan.vn).

Một trong những nội dung đáng quan tâm của dự thảo Nghị định này là việc sửa đổi, hoàn thiện nội dung về mức đóng 0,3% và 0,5%.

Dự thảo Nghị định bãi bỏ thủ tục hành chính về mức đóng thấp hơn đối với từng doanh nghiệp và quy định mức đóng chung bằng 0,3% đối với người sử dụng lao động thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2027, trừ trường hợp doanh nghiệp được áp dụng mức đóng 0% theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 3 dự thảo Nghị định. Việc áp dụng trực tiếp mức đóng 0,3% vừa cắt giảm thủ tục hành chính, vừa hỗ trợ người sử dụng lao động giảm chi phí đóng trong thời gian có giới hạn. Từ ngày 1/1/2028, mức đóng được áp dụng bằng 0,5%.

Về khả năng cân đối Quỹ, theo số liệu của Bộ Tài chính, số dư Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ước đến hết năm 2025 khoảng 86.442 tỷ đồng. Theo giả định quỹ tiền lương làm căn cứ đóng và số người tham gia không thay đổi so với năm 2025, nếu áp dụng mức đóng 0,3% trong 1 năm, số giảm thu ước khoảng 2.947,6 tỷ đồng; trong 2 năm, số giảm thu lũy kế ước khoảng 5.895,2 tỷ đồng; từ năm 2027 đến hết năm 2030, tương ứng 4 năm, số giảm thu lũy kế ước khoảng 11.790,4 tỷ đồng; trong 5 năm, số giảm thu lũy kế ước khoảng 14.738 tỷ đồng.

Việc lựa chọn mức đóng 0,3% được cân nhắc trên cơ sở hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ người sử dụng lao động và bảo đảm an toàn Quỹ. So với mức đóng 0,5% hiện hành, mức 0,3% làm giảm tương đương giảm 40% mức đóng. Đây là mức giảm tương đối đáng kể, góp phần giảm chi phí cho người sử dụng lao động, nhưng vẫn duy trì nguồn thu cần thiết cho Quỹ.

Mức 0,3% được xác định là mức giảm hợp lý, không quá ít để chính sách hỗ trợ không phát huy hiệu quả, đồng thời không quá nhiều để ảnh hưởng đến khả năng cân đối và chi trả của Quỹ. Vì vậy, không lựa chọn mức 0,4% do mức hỗ trợ chưa rõ rệt, cũng không lựa chọn mức 0,2% hoặc 0,1% vì có thể làm giảm đáng kể nguồn thu, ảnh hưởng đến an toàn Quỹ.

Việc giới hạn thời gian áp dụng mức đóng 0,3% trong năm 2027 nhằm bảo đảm thận trọng khi quyết định chính sách làm giảm nguồn thu của Quỹ. Trong thời gian tới, áp lực chi có xu hướng gia tăng, cả về số người hưởng và mức chi trả, do điều chỉnh tiền lương và định hướng nâng mức hưởng theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi). Khả năng cân đối Quỹ trong trung hạn và dài hạn còn phụ thuộc vào sự biến động của số người tham gia, tiền lương làm căn cứ đóng, số người hưởng, mức hưởng, thu từ hoạt động đầu tư và các nghĩa vụ chi trả phát sinh. Do đó, khi chưa có đầy đủ cơ sở dự báo các yếu tố này, việc áp dụng ngay mức đóng 0,3% trong 2 năm, 5 năm hoặc đến hết năm 2030 sẽ làm tăng tác động giảm thu lũy kế và thu hẹp dư địa tài chính của Quỹ.

Vì vậy, dự thảo lựa chọn áp dụng mức đóng 0,3% trong năm 2027 như một giải pháp hỗ trợ có thời hạn, vừa kịp thời giảm chi phí cho người sử dụng lao động, vừa hạn chế tác động giảm thu lũy kế và tạo điều kiện theo dõi, đánh giá tình hình thu, chi, khả năng cân đối của Quỹ trước khi xem xét chính sách cho giai đoạn tiếp theo. Từ ngày 1/1/2028, mức đóng bằng 0,5% được áp dụng nhằm khôi phục nguồn thu ổn định và bảo đảm an toàn, bền vững của Quỹ.

Bên cạnh lộ trình áp dụng mức đóng chung như trên, dự thảo Nghị định bổ sung mức đóng bằng 0% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong 12 tháng kể từ tháng thành lập hoặc chuyển đổi đối với doanh nghiệp mới thành lập từ hợp tác xã hoặc chuyển đổi từ hộ kinh doanh, có từ 1 đến 10 người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Quy định này áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập hoặc chuyển đổi kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2030.

Về cơ sở pháp lý, khoản 3 Điều 44 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định người sử dụng lao động hằng tháng đóng tối đa 1% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động và giao Chính phủ quy định chi tiết mức đóng. Trên cơ sở đó, việc quy định mức đóng bằng 0% đối với một nhóm doanh nghiệp cụ thể, trong phạm vi và thời gian có giới hạn, thuộc thẩm quyền quy định chi tiết mức đóng của Chính phủ.

Chính sách mức đóng 0% nhằm hỗ trợ có trọng tâm đối với doanh nghiệp mới thành lập từ hợp tác xã hoặc chuyển đổi từ hộ kinh doanh, có từ 1 đến 10 người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong giai đoạn đầu hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, khi hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa ổn định và phải tập trung nguồn lực cho các chi phí ban đầu. Việc lựa chọn mức đóng 0% tạo ra mức hỗ trợ trực tiếp, rõ ràng và có thể áp dụng ngay, không yêu cầu doanh nghiệp lập hồ sơ đề nghị hoặc thực hiện thủ tục xét duyệt.

Phạm vi chính sách được giới hạn đối với doanh nghiệp mới thành lập từ hợp tác xã hoặc chuyển đổi từ hộ kinh doanh, có từ 1 đến 10 người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhằm tập trung hỗ trợ doanh nghiệp có quy mô lao động nhỏ. Việc sử dụng tiêu chí số người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tạo điều kiện để cơ quan bảo hiểm xã hội xác định đối tượng trên cơ sở dữ liệu quản lý thu. Trong thời gian áp dụng mức đóng bằng 0%, nếu doanh nghiệp có hơn 10 người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì kể từ tháng có hơn 10 người lao động, doanh nghiệp thực hiện mức đóng quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều 3 dự thảo Nghị định tương ứng với thời điểm áp dụng.

Thời gian áp dụng mức đóng bằng 0% được xác định là 12 tháng kể từ tháng doanh nghiệp được thành lập hoặc chuyển đổi. Trong thời gian này, việc áp dụng mức đóng bằng 0% chấm dứt nếu doanh nghiệp có hơn 10 người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 dự thảo Nghị định. Việc xác định thời gian áp dụng thống nhất nhằm bảo đảm công bằng giữa các doanh nghiệp thuộc cùng nhóm đối tượng, không phụ thuộc vào thời điểm thành lập hoặc chuyển đổi trong năm.

Chính sách chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc nhóm đối tượng nêu trên được thành lập hoặc chuyển đổi kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2030. Theo đó, ngày 31/12/2030 là thời điểm cuối cùng để xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng chính sách; doanh nghiệp được thành lập hoặc chuyển đổi trong năm 2030 vẫn được áp dụng mức đóng bằng 0% trong 12 tháng kể từ tháng thành lập hoặc chuyển đổi, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 dự thảo Nghị định. Việc giới hạn về đối tượng và thời gian áp dụng nhằm bảo đảm chính sách có trọng tâm, kiểm soát tác động giảm thu và có mốc đánh giá trước khi xem xét chính sách cho giai đoạn tiếp theo.

Dự kiến, Nghị định được trình Chính phủ xem xét, ban hành vào tháng 10 năm 2026 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Theo NGÂN LÊ (Nhân dân)