Quản trị trí tuệ nhân tạo an toàn

09/07/2026 - 08:58

Sinh viên Đại học Phenikaa trong giờ thực hành công nghệ.

Sinh viên Đại học Phenikaa trong giờ thực hành công nghệ.

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang hiện diện ngày càng sâu rộng trong đời sống, từ giáo dục, y tế, truyền thông đến quản trị công, trở thành công cụ hữu hiệu hỗ trợ con người nâng cao năng suất và chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, thực tế cũng đang đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng về trách nhiệm, tính minh bạch, quyền riêng tư, sự công bằng và các giới hạn đạo đức trong quá trình phát triển, ứng dụng AI.

Công nghệ phải phục vụ phẩm giá con người

Khi AI trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, vấn đề cốt lõi đặt ra là AI phục vụ ai, phục vụ điều gì và phục vụ theo những giới hạn nào. Làm thế nào để sử dụng AI tốt hơn cho con người, an toàn hơn cho xã hội, từ đó giúp mỗi quốc gia trở nên tự chủ hơn? Tiến sĩ Hồ Đức Thắng, đại biểu Quốc hội chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho biết, trước đây để đạt 100 triệu người dùng điện thoại cố định, thế giới phải mất tới 75 năm, 100 triệu người sử dụng internet mất 7 năm nhưng hiện nay ChatGPT chỉ cần 2 năm là đạt 100 triệu người sử dụng. Thống kê cho thấy, đến cuối năm 2024, tổng số nội dung AI tạo ra đã vượt nội dung con người viết trên internet toàn cầu. Đây không đơn thuần là số liệu, mà là một cảnh báo đáng lo ngại. Trong tương lai, khi AI được huấn luyện trên chính dữ liệu do AI tạo ra sẽ dẫn tới suy thoái dữ liệu, những câu trả lời của AI sẽ trở nên nghèo nàn, lệch lạc, xa rời thực tế.

Nguy cơ này cho thấy tính cấp thiết trong việc kiểm soát và định hướng phát triển AI, để AI thật sự phục vụ con người và tôn trọng các giá trị nhân văn. Trong bối cảnh đó, quản trị đạo đức AI được ví như “bộ phanh” an toàn giúp cỗ xe công nghệ tự tin tăng tốc và đi đúng hướng.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ ứng dụng AI khá nhanh trong khu vực Đông Nam Á. Với tầm nhìn xa, Chính phủ sớm ban hành những quy định nền tảng quan trọng cho vấn đề quản trị. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia khẳng định AI là công nghệ chiến lược, yêu cầu hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng dữ liệu để bảo đảm AI được phát triển an toàn, có trách nhiệm. Các Luật An ninh mạng 2018, Luật Dữ liệu 2024 tạo hành lang pháp lý nền tảng cho việc quản lý dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong phát triển, triển khai AI.

1-ai-3.jpg

Máy in 3D sinh học của nhóm nhà khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh (bên trái) làm trưởng nhóm, kỳ vọng hỗ trợ cấy ghép mô và tự chủ nguồn mô ghép.

Sự ra đời của Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 đã thiết lập khung pháp lý toàn diện cho phát triển, triển khai và quản lý AI tại Việt Nam, với nguyên tắc lấy con người làm trung tâm và quản lý rủi ro theo mức độ. Dù vậy, một số chuyên gia nhận định, tốc độ phát triển AI ở Việt Nam hiện nay nhanh hơn đáng kể so với quá trình hoàn thiện thể chế và năng lực quản lý nhà nước.

Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Nga, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhận định, một trong những yếu tố cốt lõi để phát triển AI là dữ liệu để huấn luyện. Hiện nay, dữ liệu số còn phân tán giữa các bộ, ngành và địa phương. Tiêu chuẩn chia sẻ dữ liệu cũng chưa đồng bộ, dữ liệu mở còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến cả chất lượng mô hình AI và khả năng kiểm soát rủi ro đạo đức. Thách thức tiếp theo, chúng ta còn thiếu nguồn nhân lực liên ngành. Quản trị đạo đức AI đòi hỏi đội ngũ chuyên gia có kiến thức đồng thời về khoa học máy tính, luật học, đạo đức học, quản trị công và an ninh mạng. Không chỉ vậy, nhận thức của doanh nghiệp và xã hội còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp mới chỉ tập trung vào hiệu quả kinh tế của AI mà chưa quan tâm xây dựng quy trình đánh giá rủi ro đạo đức, cơ chế giám sát hay quy tắc sử dụng AI có trách nhiệm.

Quản trị AI mở, linh hoạt, có trách nhiệm

Để quản trị đạo đức AI hiệu quả phải không ngừng hoàn thiện khung pháp lý. Thể chế, chính sách phải theo kịp tốc độ phát triển của AI và được kiến tạo dựa trên mức độ rủi ro, quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp phát triển, nhà cung cấp, đơn vị triển khai AI. Đồng thời thường xuyên bổ sung, cập nhật đánh giá tác động đạo đức đối với các hệ thống AI có nguy cơ cao và ưu tiên xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia về minh bạch thuật toán, khả năng giải trình và kiểm toán AI.

Bộ Khoa học công nghệ đã ban hành Khung đạo đức AI quốc gia theo Thông tư 05/2026/TT-BKHCN ngày 10/3/2026. Việc áp dụng Khung là bắt buộc đối với cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong vai trò nhà phát triển, nhà cung cấp, bên triển khai hoặc người sử dụng hệ thống AI phục vụ hoạt động quản lý nhà nước hoặc dịch vụ công.

Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Nga nhận định, Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia là cột mốc quan trọng để định hình một hệ sinh thái AI an toàn, nhân văn, tin cậy, nhưng việc chuyển hóa các nguyên tắc này thành các quy trình hành động cụ thể tại từng tổ chức, doanh nghiệp và dự án nghiên cứu vẫn là một bài toán khó cần đến sự hợp tác đồng bộ, chặt chẽ của ba bên: Nhà quản lý, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành. Muốn thực hiện tốt điều này, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đào tạo liên ngành kết hợp AI, khoa học dữ liệu, luật công nghệ, đạo đức số và quản trị công. Ngoài ra cần nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong phát triển AI. Chuyên gia kiến nghị mỗi doanh nghiệp cần xây dựng một nguyên tắc đạo đức nội bộ, thành lập hội đồng đạo đức công nghệ, công khai chính sách sử dụng dữ liệu, đánh giá tác động xã hội đối với các sản phẩm AI, bảo đảm sự giám sát của con người đối với các quyết định quan trọng.

Mới đây nhất, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định 33/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao thuộc các lĩnh vực: Giáo dục, dân tộc và tôn giáo, y tế, ngân hàng, tố tụng, giao thông vận tải. Theo quy định, các hệ thống AI rủi ro cao theo danh mục phải đáp ứng các nguyên tắc hoạt động cơ bản theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo; việc sử dụng hệ thống AI không làm thay đổi, chuyển giao hoặc loại trừ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Đồng thời, phải bảo đảm sự giám sát, kiểm soát và khả năng can thiệp của con người trong quá trình vận hành, không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

Việc áp dụng biện pháp quản lý tương xứng với mức độ rủi ro của AI không bóp nghẹt đổi mới nhưng cũng không buông lỏng nguy cơ là cách quản trị mà nhiều quốc gia phát triển đã áp dụng. Tiến sĩ Hồ Đức Thắng cho rằng, Việt Nam đang đi đúng trật tự kinh điển của khoa học quản trị bằng việc quy định chuỗi trách nhiệm rõ ràng trong sử dụng AI. Đạo đức AI không phải lời nhắc cá nhân, mà là trách nhiệm hệ thống. Quản trị tốt đạo đức AI chính là đặt nền móng phát triển nền AI mang bản sắc Việt, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững trong thời kỳ mới.

Theo Nhandan.vn