Đang quan tâm nhiều hơn đến voi
Theo báo cáo tháng 6/2026 của Trung tâm bảo tồn voi, cứu hộ động vật và quản lý bảo vệ rừng thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk về kết quả thực hiện Dự án khẩn cấp Bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk, đến năm 2025: Công tác bảo tồn voi hoang dã cơ bản đã đạt các mục tiêu đề ra. Hiện nay, đàn voi rừng đã có khoảng từ 60 - 80 cá thể, có đủ voi đực, voi cái, voi con, cả voi già và voi trưởng thành, số voi con tăng thêm hàng năm. Trung tâm đã cứu hộ thành công ba cá thể voi hoang dã bị thương. Voi Jun được cứu từ bẫy ngày 19/1/2015, đã tăng từ 500 kg đến 2.300 kg và voi Gold được cứu năm 2016 khi mới bốn tháng tuổi nay đã lớn và nặng gần 2.100 kg. Các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã phối hợp tốt với Đắk Lắk. Đến nay có 9 chương trình, dự án đã và đang được xúc tiến với tổng kinh phí hơn 3 triệu USD hỗ trợ tích cực, hiệu quả cho công tác bảo tồn voi Đắk Lắk.
Hiện nay, Đắk Lắk còn 33 voi nhà. Ở Buôn Đôn (cũ) có 22 voi, ở Lắk (cũ) có 10 voi và một voi ở xã Dur KMăn, trong đó có 15 voi đực và 18 voi cái. Đàn voi nhà được theo dõi về sức khỏe, được kiểm tra các chỉ tiêu sinh hóa, được tẩy ký sinh trùng. Mỗi cá thể voi nhà đều được gắn chíp định danh để quản lý và được chăm sóc nâng cao phúc lợi. Trong Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn voi tại Việt Nam nêu mục tiêu bảo tồn đối với voi nhà đến năm 2035: Chú trọng tăng cường sức khỏe thể chất, tinh thần và phát triển sinh cảnh phù hợp cho voi, trong tầm nhìn đến năm 2050: Bảo đảm phúc lợi và thúc đẩy sự phát triển voi nhà.

Voi Y Mâm. Ảnh: Y VINH
Đừng quên môi sinh, tập tục gắn liền với voi
Đắk Lắk tự hào vì có voi, có truyền thống chung sống hòa hợp và thuần dưỡng, sử dụng voi. Hình ảnh voi đi cùng văn hóa tộc người bản địa. Các cộng đồng Mnông, Ê Đê và Gia Rai là những dân tộc tiêu biểu gắn bó với voi từ nhiều thế hệ. Thời kháng chiến, voi cùng đồng bào giúp bộ đội tải thương, tải gạo, tải đạn. Chiến tranh đã đi qua, thời xây dựng phát triển quê hương, voi là “điểm nhấn sống” hấp dẫn du khách về sự kỳ vĩ độc đáo, hấp dẫn các nhà nghiên cứu về nguồn gen và môi sinh.
Chung quanh con voi nhà còn có khối di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ về sự chung sống và những tri thức bản địa đặc sắc mang hiểu biết của đồng bào về voi: Môi trường sống, tập quán động vật của voi, cách nuôi dưỡng, cách huấn luyện, cách sử dụng, cách chữa bệnh cho voi... Hơn cả một vật nuôi, voi thông minh, tình nghĩa và biết giao tiếp với người. Voi là một thành viên của gia đình người Mnông. Voi được đặt tên như người, được cúng cầu sức khỏe, khi voi già rồi qua đời sẽ được người chủ làm đám ma... Voi đồng hành với người ở Đắk Lắk trong đời sống, trong lễ hội, trong tâm linh, tín ngưỡng.
Anh Y Vinh cho rằng: Hoàn toàn có thể tăng sự gần gũi giữa du khách và voi nhưng không cần theo cách cưỡi voi cả ngày đang được loại trừ mà chỉ theo kiểu “check in” với thời gian ngắn chừng 10 phút thì không có gì xấu ảnh hưởng đến voi. Du khách sẽ được gần và có sự đồng cảm với voi hơn. Voi cũng được sống trong tình cảm gia đình của mình.
Anh Y Vinh ÊUng, người Mnông ở xã Liên Sơn Lắc, tỉnh Đắk Lắk, chủ voi Y Khămsen Êung kể: “Voi hiểu nhiều tiếng người, cũng vui buồn với người. Tên voi Y Khămsen theo tiếng Mnông Lào ở Buôn Đôn là “Cục vàng”. Y Khămsen hơn 40 tuổi rồi nhưng quý trẻ con lắm”. Anh Y Vinh cũng nói: Khi phải xa voi các gia đình đều thương nhớ, như phải xa cách một người thân. Mối dây tình cảm voi và người không dễ gì quên...
Để không làm gián đoạn sợi dây liên kết giữa voi với người trong “văn hóa voi” vùng Tây Nguyên, TS Peter Larsen, Đại học Geneva, chuyên gia UNESCO về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, vừa có chuyến khảo sát Dự án khẩn cấp Bảo tồn voi đã đề xuất bảo tồn và phát triển đàn voi nhà dựa trên tri thức bản địa về voi: “Chiến lược chăm sóc cần kết hợp ba phương pháp: Chăm sóc voi dựa trên sự hiểu biết bản địa về sức khỏe và phúc lợi của voi, chăm sóc rừng truyền thống bao gồm việc tiếp cận nguồn thực phẩm truyền thống, chăm sóc con người, văn hóa và việc truyền tải di sản phi vật thể. Việc kết nối thiên nhiên và văn hóa một cách tôn trọng là cốt lõi của việc chăm sóc dựa trên truyền thống. Điều quan trọng là nên ủng hộ du lịch gần gũi với voi bản địa thay vì bác bỏ và kỳ thị nó như một hoạt động không thân thiện”.
Mong có kết quả bảo vệ tốt đẹp nhất cho đàn voi nhà ở Đắk Lắk, TS Peter Larsen cho rằng: Cần những giải pháp tổng thể và liên ngành, nhưng điều quan trọng là các biện pháp phải đồng thời liên kết và hỗ trợ nhau: Sử dụng và tuyên truyền các kết quả nghiên cứu khoa học để nâng cao tri thức về voi của cả cán bộ và người dân, bổ sung các công cụ hỗ trợ hiện đại để giám sát và có thể hỗ trợ kịp thời từng cá thể voi - Coi trọng bảo tồn di sản phi vật thể trong văn hóa các dân tộc có truyền thống chung sống với voi, các tập quán giao tiếp giữa người và voi, tận dụng tri thức bản địa của cộng đồng chăm sóc voi nhà - Cải tạo bền vững, chăm lo môi trường sinh sống của voi, loại trừ các nguyên nhân có thể xâm hại voi từ cả thiên nhiên và con người. Theo TS Peter Larsen, nếu các biện pháp đó được thực hiện rộng rãi và đồng bộ, chắc chắn tương lai của đàn voi nhà ở Đắk Lắk sẽ tươi sáng hơn nhiều.




Đọc nhiều