Cơn "sốt" lãi suất đầu năm 2026: Chuyên gia chỉ điểm loạt lý do quan trọng, bất ngờ về con số 24.000 tỷ đồng

06/02/2026 - 11:11

Lãi suất huy động bắt đầu tăng từ quý IV/2025 và tiếp tục nóng lên vào đầu năm 2026. Xu hướng này đang tạo áp lực lớn lên chi phí vốn của doanh nghiệp, đồng thời đặt ra thách thức không nhỏ cho việc điều hành chính sách tiền tệ.

Sức ép thanh khoản hệ thống ngân hàng đã gia tăng đáng kể từ cuối năm 2025, kích hoạt đà tăng nhanh của lãi suất huy động và lan tỏa sang thị trường liên ngân hàng.

Giải mã sức nóng của lãi suất trên các thị trường

Đáng chú ý nhất, báo cáo từ Hội nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam (Vira) cho thấy lãi suất chào bình quân liên ngân hàng tiền đồng ngày 3/2 tăng mạnh từ 2 điểm % đến 7,9 điểm % ở hầu hết kỳ hạn từ một tháng trở xuống.

Theo đó, lãi suất qua đêm (ON) vọt lên 17%; kỳ hạn 1 tuần lên 15%, kỳ hạn 2 tuần 6,4% và kỳ hạn 1 tháng lên 9,5%.

Diễn biến lãi suất qua đêm liên ngân hàng giai đoạn 2020 - 2026.

Trước khi nhanh chóng hạ nhiệt về quanh ngưỡng 9,5% tại ngày 4/2, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động bổ sung thanh khoản thông qua hoạt động mua kỳ hạn giấy tờ có giá, với tổng giá trị ròng khoảng 161.000 tỷ đồng trong hai phiên 2–3/2/2026, đồng thời triển khai các giao dịch hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn nhằm hỗ trợ hệ thống.

Trước đó, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) thừa nhận, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có thời điểm tăng cao, phản ánh áp lực bảo đảm an toàn thanh khoản, song Ngân hàng Nhà nước tin tưởng tình hình sẽ sớm được cải thiện khi các giải pháp điều hành được triển khai đồng bộ.

Theo chuyên gia từ Chứng khoán KBSV Nguyễn Anh Tùng, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng thiếu hụt nguồn vốn ngắn hạn do chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động.

Trong năm 2025, hệ thống ngân hàng duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhằm hỗ trợ nền kinh tế, song điều này khiến tăng trưởng huy động gặp nhiều khó khăn. Tính đến cuối năm, tăng trưởng huy động đạt 15,1% so với đầu năm, thấp hơn đáng kể so với tăng trưởng tín dụng ở mức 19,6% so với đầu năm.

Sự chênh lệch này khiến tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của toàn ngành ngân hàng – tính trên nhóm 15 ngân hàng lớn nhất do đơn vị phân tích theo dõi – tăng lên khoảng 115%, so với mức 110% hồi đầu năm. Điều này buộc các ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động nhằm đảm bảo thanh khoản.

Tăng trưởng tín dụng – Huy động lũy kế tính từ năm 2021. Ảnh: KBSV.

Mặt khác, trong những năm gần đây, tăng trưởng tín dụng bình quân thường dao động quanh mức 13–15%/năm, được xem là phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và không gây áp lực đáng kể lên thanh khoản hệ thống.

Tuy nhiên, mức tăng trưởng vượt trội của năm 2025 – cao hơn mặt bằng các năm trước khoảng 5,5 điểm phần trăm – đồng nghĩa với việc, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, hệ thống sẽ cần khoảng 6 tháng để huy động vốn có thể dần bù đắp phần thiếu hụt thanh khoản.

Dù vậy, trong thời gian qua, các ngân hàng đã chủ động điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Do đó, mặc dù tồn tại độ trễ nhất định, ông Tùng kỳ vọng rằng sau quý 1, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động sẽ cơ bản được thu hẹp.

Bên cạnh đó, vị chuyên gia cũng chỉ ra một nguyên nhân khác gây áp lực thanh khoản là nhu cầu nắm giữ tiền mặt gia tăng, liên quan đến chính sách thuế mới áp dụng đối với hộ kinh doanh, bao gồm cả nhóm cho thuê nhà.

Từ năm 2026, ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế được nâng lên 500 triệu đồng/năm, đồng thời cho phép khấu trừ mốc này trước khi tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu. Sự thay đổi này tạo động lực cho nhóm hộ có doanh thu trên 500 triệu đồng tìm cách hạn chế kê khai thuế.

Trên thực tế, nhiều cửa hàng đã yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt, không nhận chuyển khoản, nhằm giảm doanh thu ghi nhận. Điều này khiến lượng tiền mặt ngoài lưu thông gia tăng, qua đó rút bớt thanh khoản khỏi hệ thống ngân hàng.

Dẫn số liệu của Cục Thuế, đơn vị phân tích ước tính hiện có khoảng 240.000 hộ kinh doanh có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm. Trên cơ sở đó, chuyên gia KBSV ước tính trong một quý, khoảng 24.000 tỷ đồng có thể được các hộ kinh doanh giữ ngoài hệ thống ngân hàng, tương đương khoảng 0,15% tổng số dư huy động. Dù con số này không lớn, song trong giai đoạn đầu triển khai chính sách, tâm lý e ngại có thể khiến lượng tiền mặt giữ ngoài hệ thống cao hơn mức ước tính.

Theo chuyên gia, đây cũng là yếu tố mang tính ngắn hạn và cần độ trễ khoảng một quý để một phần tiền mặt quay trở lại hệ thống ngân hàng.

Ngoài ra, yếu tố mùa vụ của dòng tiền trước Tết cũng được xem là nguyên nhân quan trọng. Tại Việt Nam, nhu cầu tiền mặt thường tăng mạnh trong quý 1, đặc biệt vào giai đoạn trước Tết Nguyên đán, nhằm phục vụ các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn như trả lương – thưởng, ứng tiền cho nhân viên, mua sắm Tết và thanh toán cho nhà cung cấp.

Theo quy luật hàng năm, ông Tùng cho rằng lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng sẽ dần ổn định trở lại sau quý 1. Nhìn chung, chuyên gia từ KBSV đánh giá tình trạng mất cân đối nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng có thể kéo dài hết quý 1/2026. Mặt bằng lãi suất khó quay lại vùng thấp như trước, nhưng được kỳ vọng sẽ hạ nhiệt dần và ổn định hơn từ quý 2.

Bài toán khó của Ngân hàng Nhà nước

Bước sang năm 2026, Ngân hàng Nhà nước dự kiến định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, có điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thực tế, nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng.

Đáng chú ý, ông Suan Teck Kin - Giám đốc khối nghiên cứu thị trường và kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore nhận định, với kết quả tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2025 và triển vọng khả quan cho năm 2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gần như không có nhiều dư địa để nới lỏng chính sách ở thời điểm này.

Khi lý giải, ông này chỉ ra thị trường ngoại hối cũng là một yếu tố quan trọng. Đồng VND là đồng tiền giảm giá mạnh thứ ba tại châu Á trong năm 2025, mất giá 3,1% so với USD, chỉ thấp hơn mức giảm của đồng rupee Ấn Độ (4,8%) và rupiah Indonesia (3,5%), nhưng cao hơn mức giảm của peso Philippines. Ngược lại, các đồng tiền trong khu vực hưởng lợi từ xu hướng USD suy yếu, như ringgit Malaysia tăng đến 10%, yen Nhật tăng 0,3% trong năm qua.

"Dựa trên các yếu tố trên, chúng tôi kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% trong suốt năm 2026", UOB đưa ra dự báo.

Ông Suan Teck Kin, Giám đốc khối nghiên cứu thị trường và kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore. Ảnh: UOB

Trước đó, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) thẳng thắn chỉ ra thách thức trong thời gian tới, đó là hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực quá lớn trong việc cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia.

Bà Giang phân tích, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia là rất lớn tạo áp lực không nhỏ đối với các tổ chức tín dụng trong việc cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro kỳ hạn, nhất là khi nguồn vốn cho vay chủ yếu vẫn là tiền gửi có kỳ hạn ngắn, hiện chiếm khoảng 80% tổng tiền gửi của hệ thống.

Bên cạnh đó, một số chương trình tín dụng theo ngành, lĩnh vực còn gặp khó khăn trong quá trình triển khai, điển hình như Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ, do nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế.

Trước bối cảnh đó, để góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu "hai con số" trong giai đoạn 2026-2030, bà Hà Thu Giang cho biết, NHNN sẽ tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp tín dụng bám sát chủ trương, định hướng, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ.

Trọng tâm là tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách về hoạt động tín dụng ngân hàng; tích cực tổ chức triển khai các nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng về phát triển nông nghiệp, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế tư nhân, y tế, giáo dục, năng lượng.

Để giảm áp lực trong cân đối nguồn vốn, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho rằng: "Cần phải cân bằng cấu trúc các kênh dẫn vốn, trong đó thị trường vốn cần được phát triển tương xứng hơn nhằm giảm sự phụ thuộc quá lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng, nhất là đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn".

Cùng bàn luận, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng cảnh báo, việc phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cũng tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt đối với an toàn hệ thống và thanh khoản, nhất là trong những giai đoạn cao điểm như cuối năm.

Theo đó, ông Hùng dự báo, mặt bằng lãi suất thời gian tới có khả năng điều chỉnh, qua đó tác động đến hoạt động kinh doanh và chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Đồng thời, trong bối cảnh các ngân hàng đang từng bước hướng tới các chuẩn mực an toàn cao hơn như Basel III, bài toán cân đối nguồn lực để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa đáp ứng yêu cầu an toàn theo thông lệ quốc tế ngày càng trở nên thách thức.

Tại phiên họp Ban Chỉ đạo điều hành kinh tế vĩ mô ngày 26/1, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Ngân hàng Nhà nước kiểm soát lãi suất phù hợp, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng mới như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhà ở xã hội, đồng thời phát triển an toàn, minh bạch các thị trường vốn và bất động sản.

Theo Dân Việt