Đặt văn hóa vào đúng vị trí trụ cột chiến lược

06/04/2026 - 08:19

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, tư duy và nhận thức về vai trò của văn hoá tiếp tục có những bước phát triển mới; thể chế, chính sách, nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hoá được tăng cường; công nghiệp văn hoá đang trên đà phát triển...

Để hiểu sâu hơn về Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội khóa XV, Đại biểu Quốc hội khóa XVI của TP Hà Nội về chủ đề này.

Chú thích ảnh

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn , Giáo dục của Quốc hội khóa XV, Đại biểu Quốc hội khóa XVI của TP Hà Nội.

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, điểm mới nổi bật và có chiều sâu nhất của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam so với các văn kiện trước đây là sự nâng cấp toàn diện vai trò của văn hóa. Ông có bình luận gì về quan điểm này?

Đây là một nhận định xác đáng. Trước đây, chúng ta thường nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển, Nghị quyết 80 đã đi xa hơn một bước rất quan trọng: Đặt văn hóa vào đúng vị trí của một trụ cột chiến lược trong cấu trúc phát triển quốc gia.

Nghị quyết không nhìn văn hóa như một lĩnh vực đứng bên cạnh kinh tế, chính trị, xã hội, mà nhìn văn hóa như sức mạnh nội sinh quan trọng, như hệ điều tiết bảo đảm cho sự phát triển nhanh nhưng vẫn bền vững, hiện đại nhưng không mất gốc, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ được bản lĩnh và bản sắc Việt Nam. Đây là một bước phát triển sâu về tư duy.

Điều đáng nói hơn là sự “nâng cấp” ấy không chỉ dừng ở nhận thức, mà đã được thể hiện thành những định hướng cụ thể. Nghị quyết 80 yêu cầu phát triển văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội; nhấn mạnh an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số; đồng thời đặt ra nhiệm vụ xây dựng bộ chỉ số văn hóa quốc gia, bộ chỉ số thống kê đóng góp của công nghiệp văn hóa đối với nền kinh tế, thúc đẩy các mô hình kinh tế văn hóa mới, cụm công nghiệp sáng tạo, hợp tác công tư trong văn hóa.

Nói cách khác, văn hóa không còn chỉ được nói đến bằng ngôn ngữ giá trị, mà còn bằng ngôn ngữ quản trị, thể chế, nguồn lực và phát triển. Điểm này làm nên chiều sâu đặc biệt của Nghị quyết 80, mở ra thời kỳ mới cho văn hóa Việt Nam.

Khi văn hóa được đặt ở tầm chiến lược, chúng ta có cơ sở để đòi hỏi những chính sách đột phá hơn, nguồn lực mạnh hơn, cách làm bài bản hơn, và đặc biệt là một sự vào cuộc đồng bộ hơn của cả hệ thống chính trị. Đó không chỉ là câu chuyện của ngành văn hóa, mà là câu chuyện của phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ đây, văn hóa mới thực sự có cơ hội trở thành sức mạnh mềm quốc gia, trở thành năng lượng tinh thần, năng lượng sáng tạo và năng lượng đoàn kết cho hành trình vươn lên của dân tộc.

Chú thích ảnh

Hát Quan họ trên thuyền, nét đẹp văn hóa tại hội Lim, Bắc Ninh. Ảnh: Thanh Thương/TTXVN

Văn hóa được xác định là mục tiêu, nền tảng tinh thần của xã hội, "hệ điều tiết” cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Để văn hóa có chỗ đứng trong lòng nhân dân như mục tiêu của Nghị quyết 80 cần phải làm gì, thưa ông?

Muốn văn hóa có chỗ đứng thật sự trong lòng nhân dân, trước hết phải làm cho văn hóa hiện diện trong đời sống hằng ngày của nhân dân, chứ không chỉ tồn tại trong các khẩu hiệu hay trong những dịp lễ hội.

Người dân chỉ cảm nhận được giá trị của văn hóa khi họ được sống trong một môi trường văn hóa lành mạnh, khi con em họ được học và thụ hưởng nghệ thuật, khi khu dân cư có không gian sinh hoạt cộng đồng, khi những giá trị tử tế, nhân văn, nghĩa tình trở thành chuẩn mực ứng xử trong gia đình, ngoài xã hội và cả trên không gian mạng.

Nghị quyết 80 nhấn mạnh việc phát triển văn hóa cơ sở, lấy khu dân cư làm hạt nhân, người dân làm chủ thể và trung tâm, bảo đảm quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hóa một cách bình đẳng. Theo tôi, đó chính là con đường căn cốt nhất.

Nhưng chỉ thụ hưởng thôi chưa đủ. Văn hóa chỉ thực sự sống bền khi người dân thấy mình là một phần của văn hóa, là người sáng tạo, người gìn giữ và người truyền tiếp các giá trị ấy. Vì thế, cần đặt trọng tâm vào xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn với việc lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Phải để văn hóa đi vào giáo dục, vào truyền thông, vào môi trường công vụ, vào hành vi của cán bộ, đảng viên, vào nếp sống đô thị và nông thôn. Khi người dân thấy văn hóa không phải điều gì xa xôi mà chính là cách chúng ta sống với nhau, đối xử với nhau, ứng xử với cộng đồng, với di sản, với thiên nhiên và với Tổ quốc, lúc ấy văn hóa mới thực sự có vị trí bền vững trong lòng dân.

Để đạt mục tiêu ấy, phải có những đột phá rất cụ thể về thể chế và nguồn lực. Không thể nói nhiều về vai trò của văn hóa, nhưng đầu tư cho văn hóa vẫn mỏng, thiết chế vẫn yếu, cán bộ văn hóa cơ sở vẫn thiếu, nghệ sĩ và nghệ nhân vẫn còn nhiều khó khăn. Nghị quyết 80 mở ra một hành lang rất rõ cho việc hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy chuyển đổi số văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa số trong sạch.

Khi văn hóa được đầu tư đúng mức, được tổ chức bằng tư duy hiện đại, được đưa đến gần dân, do dân tham gia và vì dân phục vụ, văn hóa sẽ “có chỗ đứng”, trở thành một nhu cầu tự thân, một niềm tự hào và một điểm tựa tinh thần của mỗi người Việt Nam.

Chú thích ảnh

Sắc màu văn hóa cộng đồng dân tộc Chăm Bà-la-môn với nghệ thuật dân ca dân vũ, âm nhạc gắn với đền tháp. Ảnh: Khánh Hoà/TTXVN

Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về văn hoá. Theo ông, thời gian tới, cần đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo như thế nào?

Muốn phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa trước hết phải thay đổi dứt khoát cách nhìn. Không thể tiếp tục coi công nghiệp văn hóa là phần phụ của văn hóa, càng không thể coi đó chỉ là hoạt động biểu diễn, giải trí đơn thuần.

Nghị quyết 80 đã mở đường khi xác định công nghiệp văn hóa phải trở thành động lực tăng trưởng mới, dựa trên sự giao thoa giữa sáng tạo, bản sắc dân tộc và công nghệ hiện đại. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải nhìn văn hóa như một chuỗi giá trị hoàn chỉnh: Từ ý tưởng sáng tạo, sản xuất, phân phối, quảng bá, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đến mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Khi nhìn như vậy, công nghiệp văn hóa mới thật sự bước ra khỏi tư duy phong trào để trở thành một ngành kinh tế sáng tạo đúng nghĩa.

Để hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, điều quan trọng nhất là phải tạo ra môi trường nuôi dưỡng sáng tạo. Môi trường ấy gồm nhiều tầng nấc: Thể chế thông thoáng, quỹ hỗ trợ sáng tạo, ưu đãi thuế và tín dụng, không gian sáng tạo, trung tâm ươm tạo tài năng, nền tảng số để phân phối sản phẩm, hệ thống dữ liệu văn hóa mở, và cơ chế kết nối giữa nghệ sĩ, doanh nghiệp, nhà đầu tư, công nghệ, giáo dục và du lịch.

Nghị quyết 80 đã đề cập khá rõ đến các mô hình kinh tế văn hóa mới, các dự án trọng điểm, cụm và khu công nghiệp sáng tạo, cũng như cơ chế hợp tác công tư trong văn hóa. Đây là nền móng rất quan trọng để hình thành một hệ sinh thái mà ở đó người trẻ có thể khởi nghiệp bằng thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, trò chơi số, thời trang, thủ công sáng tạo, nội dung số, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa… trên chính chất liệu văn hóa Việt Nam.

Tuy nhiên, hệ sinh thái ấy chỉ bền vững khi có ba yếu tố đi cùng nhau: nhân lực, thị trường và bản sắc. Phải đào tạo một lớp nhân lực văn hóa mới vừa giỏi nghề, vừa hiểu công nghệ, vừa có năng lực quản trị và hội nhập. Phải mở rộng thị trường bằng thương hiệu quốc gia, bằng các sự kiện tầm cỡ, bằng xuất khẩu sản phẩm văn hóa và bằng sức mạnh của nền tảng số. Nhưng trên hết, phải giữ được hồn cốt Việt Nam trong mọi sản phẩm sáng tạo.

Khởi nghiệp công nghiệp văn hóa không phải là chạy theo cái mới một cách vô định, mà là làm cho bản sắc dân tộc bước vào đời sống đương đại bằng những hình thức hấp dẫn hơn, có sức cạnh tranh hơn. Khi đó, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra doanh thu, việc làm hay tăng trưởng, mà còn góp phần kể câu chuyện Việt Nam ra thế giới bằng một ngôn ngữ mềm mại, thuyết phục và đầy tự tin.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Theo TTXVN