
Ông Võ Minh Chiếu (bìa phải) bên ruộng lúa sắp thu hoạch. Ảnh: AN LÂM
Không còn cảnh đứng ngồi không yên chờ thương lái hay thấp thỏm mỗi khi giá lúa lên xuống thất thường, ông Nguyễn Minh Cảnh, ngụ xã Mỹ Thuận đã an tâm sản xuất vì tìm được đầu ra ổn định 3 năm nay. Điều giữ chân ông với mô hình liên kết nhiều vụ qua là chữ tín được cả doanh nghiệp và nông dân cùng gìn giữ. Ký hợp đồng liên kết sản xuất lúa Nhật với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Angimex Kitoku từ vụ hè thu năm 2024, gia đình ông Cảnh canh tác 8ha lúa theo quy trình giảm phát thải. Ông phải tuân thủ nghiêm tiêu chí về quản lý nước, giảm lượng giống, giảm phân bón, sử dụng giống xác nhận và ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất. Đổi lại, doanh nghiệp cử kỹ sư thường xuyên xuống đồng hướng dẫn kỹ thuật, đồng hành từ lúc gieo sạ đến thu hoạch và ký hợp đồng bao tiêu ngay từ đầu vụ.
Nhờ áp dụng quy trình mới, lượng giống, phân bón, nước tưới, chi phí sản xuất của gia đình ông Cảnh thấp hơn khoảng 5 triệu đồng/ha so với cách làm truyền thống, nhưng năng suất vẫn đạt khoảng 6 tấn/ha, lợi nhuận từ 30 - 35 triệu đồng/ha. “Liên kết muốn bền thì cả hai bên đều phải giữ chữ tín. Doanh nghiệp giữ đúng cam kết thu mua, nông dân làm đúng quy trình kỹ thuật. Khi ai cũng giữ lời hứa thì mình yên tâm đầu tư lâu dài”, ông Cảnh cho biết.
An Giang hiện có hơn 1,3 triệu ha đất lúa, sản lượng khoảng 8,8 triệu tấn mỗi năm. Hơn 80% diện tích được đưa vào các mô hình liên kết với doanh nghiệp, lúa chất lượng cao chiếm khoảng 83% tổng sản lượng. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương xây dựng thương hiệu gạo chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực ấy vẫn còn nhiều nông dân chưa thật sự mặn mà với liên kết.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh Lâm Quốc Toàn, trở ngại lớn nhất hiện nay không nằm ở kỹ thuật sản xuất mà là niềm tin của người dân. Thời gian qua, một số doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu nhưng chậm thanh toán, thậm chí nợ hàng tỷ đồng tiền mua lúa trong dân khiến mô hình liên kết mất uy tín. “Chúng tôi tuyên truyền bằng những mô hình hiệu quả, bằng người thật, việc thật, nhưng chỉ cần vài doanh nghiệp thất hứa thì bà con rất sợ. Sau đó muốn vận động họ quay lại liên kết không hề dễ”, ông Toàn cho biết.
Không chỉ ở cây lúa, tâm lý e dè cũng xuất hiện ở nhiều ngành hàng khác. Trong chuyến khảo sát vùng trồng mít tại các xã Mỹ Đức và Long Điền của Hội Nông dân tỉnh cùng Sở Công thương và doanh nghiệp xuất khẩu, nhiều nông dân thẳng thắn bày tỏ sự chưa mặn mà với lời mời liên kết dù doanh nghiệp cam kết hỗ trợ giống, vật tư, chuyển giao quy trình sản xuất sạch và bao tiêu sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Ông Nguyễn Văn Hùng là nông dân trồng mít ở xã Long Điền nói: “Tôi không ngại làm theo quy trình sạch, nhưng ngại nhất là khâu thu mua. Trước đây từng liên kết, tôi chăm sóc đúng yêu cầu, vậy mà khi cân hàng thì trái loại 1 lại bị hạ xuống loại 2, loại 3 nên giá giảm mạnh. Làm cực cả vụ nhưng bán không được giá thì ai cũng chùn bước”.
Theo nhiều nông dân, họ cũng quen với cách bán nông sản cho thương lái ngay tại ruộng, tại vườn và nhận tiền ngay. Trong khi đó, một số doanh nghiệp yêu cầu đưa sản phẩm đến điểm tập kết, kiểm tra chất lượng rồi mới quyết định thu mua. Nếu không đạt yêu cầu, người sản xuất vừa mất công vận chuyển, vừa phát sinh thêm chi phí.
Ông Võ Minh Chiếu - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Kênh 7B, xã Thạnh Đông cho rằng muốn liên kết lâu dài thì doanh nghiệp phải đặt chữ tín lên hàng đầu. “Đã cam kết bao tiêu thì phải mua đúng hẹn, đúng giá, không thể vì thị trường biến động mà tìm cách né hợp đồng. Nông dân chỉ cần bị “lật kèo” một lần là mất niềm tin. Doanh nghiệp cũng cần có quy trình thu mua hợp lý, minh bạch và chia sẻ rủi ro với người sản xuất”, ông Chiếu nói.
Liên kết chỉ thực sự bền vững khi cả hai phía đều có trách nhiệm với cam kết của mình. Doanh nghiệp bảo đảm đầu ra, thanh toán đúng hẹn; nông dân tuân thủ quy trình kỹ thuật, không phá vỡ hợp đồng khi giá thị trường tăng. Khi lợi ích được chia sẻ hài hòa, niềm tin sẽ được bồi đắp qua từng vụ mùa.
AN LÂM