Ký quỹ môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long: “Đặt cọc” giữ đất hay chỉ là cam kết suông?

14/09/2026 - 15:24

 - Đồng bằng sông Cửu Long đang mất đất theo từng con nước. Ngành chức năng đã ghi nhận hơn 800 điểm sạt lở, kéo dài hơn 1.200km bờ sông, bờ biển, trong khi nhiều nơi tiếp tục sụt lún 0,5-3cm mỗi năm. Bên cạnh yếu tố biến đổi khí hậu và địa chất tự nhiên, các hoạt động khai thác cát, hút nước ngầm và san lấp quy mô lớn được xác định là các tác nhân chính, trực tiếp đẩy nhanh quá trình này.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Anh.

Khi một dự án gây sạt lở, cuốn trôi đất đai, nhà cửa của người dân, ai sẽ trả giá? Pháp luật đã có công cụ ký quỹ môi trường để buộc doanh nghiệp “đặt cọc” trước cho rủi ro mình gây ra. Nhưng chiếc “cọc” ấy đã đủ chắc để giữ đất cho Cửu Long chưa?

Trao đổi về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Anh, Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cho rằng cơ chế ký quỹ hiện hành còn “chật” so với rủi ro môi trường mang tính liên vùng, liên thế hệ ở đây.

- Pháp luật hiện hành quy định ký quỹ môi trường với những đối tượng nào và các dự án gây sạt lở, sụt lún ở đây có thuộc diện này không?

Theo Điều 137 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, ký quỹ bảo vệ môi trường bắt buộc với ba nhóm hành vi, bao gồm: (1) khai thác khoáng sản, (2) chôn lấp chất thải, và (3) nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Từ 1/7/2025, Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 tiếp tục xác định cát, sỏi lòng sông là khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường, nên các dự án khai thác cát để san lấp ở đồng bằng sông Cửu Long về nguyên tắc đều phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Vấn đề là khoản này chỉ tính chi phí phục hồi mặt bằng khu mỏ, không tính phần bờ sông đã sạt cách đó hàng trăm mét. Nói cách khác, “cọc” hiện có là để lấp lại hố khai thác, chưa để đền thiệt hại lan ra ngoài dự án, đặc biệt chưa tính đến các thiệt hại môi trường về dài hạn (nếu có).

- Vậy khoảng trống lớn nhất của cơ chế ký quỹ hiện hành với các dự án có nguy cơ gây sạt lở, sụt lún ở khu vực này là gì?

Có hai khoảng trống pháp lý chính. Một là, phạm vi tính toán quá hẹp. Mức ký quỹ theo quy định hiện tại chỉ tính toán dựa trên tác động tại chỗ, trong khi sạt lở, sụt lún ở đây mang tính lan tỏa, tích lũy qua nhiều tỉnh. Hai là, phạm vi đối tượng còn hẹp. Quy định pháp luật hiện hành chỉ giới hạn nghĩa vụ ký quỹ đối với ba nhóm hành vi nêu tại Điều 137. Một số hành vi như khai thác nước ngầm lưu lượng lớn hay san lấp quy mô lớn lại không thuộc diện ký quỹ mặc dù hậu quả gây ra có thể dẫn đến sụt lún vĩnh viễn, không thể phục hồi.

- Có ý kiến đề xuất mở rộng ký quỹ môi trường để lấp khoảng trống này. Chính sách nên được thiết kế theo hướng nào để vừa hiệu quả, vừa không tạo gánh nặng bất hợp lý cho doanh nghiệp?

Không nên bắt tất cả cùng ký quỹ ở mức như nhau, mà nên gắn mức ký quỹ với hệ số rủi ro theo vị trí, dựa trên dữ liệu quan trắc đã công bố cho từng đoạn sông phù hợp với điều kiện địa lý từng vùng. Dự án ở vùng đã cảnh báo nguy cơ cao nên được cân nhắc ký quỹ cao hơn. Đồng thời, nên tách bạch hai loại quỹ: ký quỹ phục hồi tại chỗ như hiện nay và một quỹ dự phòng rủi ro vùng, trong đó nhiều chủ dự án cùng khai thác trên một lưu vực phải đóng góp theo đúng mức độ rủi ro mình gây ra. Cách làm này tránh dồn toàn bộ trách nhiệm tài chính lên một doanh nghiệp, đảm bảo vẫn tạo cơ chế luồng xanh.

- Nếu đề xuất này được luật hóa, điều kiện nào là then chốt để cơ chế mở rộng thực sự phát huy hiệu quả, thay vì chỉ nằm trên giấy?

Về mặt dữ liệu, nếu không có hệ thống quan trắc đủ tin cậy, cập nhật theo từng đoạn sông, thì công thức tính mức ký quỹ sẽ thiếu căn cứ để thực thi công bằng. Kế đến là cơ chế giám sát độc lập việc quản lý, hoàn trả tiền ký quỹ, tránh tình trạng ký cho có rồi doanh nghiệp giải thể, rút lui khi sự cố xảy ra. Và quan trọng nhất là phối hợp liên tỉnh, bởi sạt lở, sụt lún ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long không giới hạn bởi địa giới hành chính. Một mỏ cát được cấp phép ở tỉnh này hoàn toàn có thể là nguyên nhân gây sạt lở ở tỉnh liền kề. Chỉ yêu cầu “ký quỹ nhiều hơn” mà không giải được bài toán dữ liệu và điều phối vùng, công cụ này khó tạo ra thay đổi thực chất cho một đồng bằng đang mất đất từng ngày.

Tóm lại, “cọc” có giữ được đất hay không, suy cho cùng, phụ thuộc vào việc pháp luật đã sẵn sàng chuyển từ tư duy quản lý rủi ro theo dự án sang tư duy quản lý rủi ro theo vùng hay chưa. Câu chuyện ký quỹ môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long đặt ra một vấn đề pháp lý còn bỏ ngỏ: khi một rủi ro đã mang tính vùng, công cụ bảo đảm tài chính cũng cần được thiết kế ở quy mô tương xứng, thay vì chỉ gói gọn trong phạm vi từng dự án cụ thể.

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và Trung tâm Luật Quốc tế, Đại học Quốc gia Singapore tổ chức Hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu, thảo luận các chủ đề, đưa ra các giải pháp, trong đó có giải pháp kinh tế để chống biến đổi khí hậu trong khu vực ASEAN và Việt Nam ngày 30/10/2026.

Thông tin đăng ký tham dự tại đây.

P.V