Theo đó, tập sách bằng chữ Hán và một số bài có dùng chữ Nôm của môn phái Võ ta - Hổ quyền đạo được chép tay trên giấy mỏng, đã cũ sờn. Phần bìa tập sách đã hư hỏng được võ sư Đoàn Phú dùng giấy bóng khâu lại. Bên trong tập sách gồm phần thứ nhất có tên Võ kinh tự (tựa tập sách Võ kinh), giới thiệu về Võ kinh và Võ kỳ khoa văn (tức Võ cử) giới thiệu về quy định tổ chức các kỳ khoa thi võ (3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) tương tự như khoa thi văn. Các khoa thi này nhằm tuyển chọn nhân tài võ nghệ, võ lược cho đất nước.

Võ sư Đoàn Phú (đứng) trong một buổi sinh hoạt võ thuật của môn phái
Phần thứ hai là 16 bài quyền pháp và bài quyền về sử dụng binh khí. Cụ thể về quyền pháp có các bài thiệu của các bài quyền như: Mộc thiểu thảo pháp (thường gọi là bài quyền Ngọc Trản), Song xỉ diễn âm thảo pháp, Thái âm đấu Thái dương thảo pháp, Tứ chi bộ quyền thảo pháp, Độc lập mai hoa quyền thảo pháp. Về Binh khí có các bài về côn (gậy), siêu đao, trường kiếm, song phủ (búa), trường côn, long đao, song kiếm…
Theo võ sư Đoàn Phú, tập tài liệu này là do mẹ của ông - võ sư Nguyễn Hữu Thị Trúc, em gái của võ sư Nguyễn Hữu Cẩn, truyền lại. Đây là tập tài liệu ghi chép các bài Võ kinh dùng để dạy học trò của môn phái để phục vụ các kỳ thi võ tại triều đình.
Minh chứng rõ nét về Võ kinh thời Nguyễn
Theo võ sư Đoàn Phú, nền võ học nước Việt đến thời nhà Nguyễn đã được thống nhất và chuẩn hóa thành loại võ phục vụ chiến đấu trong quân đội được gọi là Võ kinh. Tuy nhiên lâu nay, khái niệm Võ kinh vẫn rất mơ hồ trong các môn phái. Nhiều người lẫn lộn giữa võ cổ truyền và Võ kinh là một.

Trang đầu của tập tài liệu chữ Hán về Võ kinh được lưu giữ tại võ đường Võ ta - Hổ quyền đạo của võ sư Đoàn Phú, P.Dương Nỗ, TP.Huế
Cụ thể, triều Nguyễn không chỉ có Võ kinh mà còn có trường dạy võ của triều đình. Trường Anh Danh Giáo Dưỡng được thành lập đầu triều Minh Mạng (khoảng năm 1826) với Xiển Võ Từ (hay còn gọi đền Võ Ban), bên trong Kinh thành Huế, nay tọa lạc tại 168 Mai Thúc Loan, TP.Huế. Đây là nơi chuyên đào tạo võ thuật cho con cháu quan lại triều đình, là địa điểm tôn vinh võ học quan trọng của triều Nguyễn, được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc cấp tỉnh năm 2006.

Sau bài Võ kinh tự là Binh pháp thư Quyển thượng với bài quyền đầu tiên Mộc thiểu thảo pháp (thường gọi bài quyền Ngọc Trản)
Bên cạnh đó, để tôn vinh võ học, vua Minh Mạng cho xây dựng Võ miếu (còn có tên Võ Thánh miếu) vào tháng 11.1835 tại làng An Ninh Thượng (nay là thôn An Bình, P.Kim Long, TP.Huế) sát bên Văn Thánh miếu để thờ các bậc danh tướng VN và danh tướng triều Nguyễn lập nhiều chiến công.
Năm 1837, khoa thi Hương võ và Hội võ lần đầu tiên được tổ chức. Triều đình quy định lấy các năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi mở khoa thi Hương võ; các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu mở khoa thi Hội võ. Trong khoa thi Hương võ, triều đình quy định người nào 3 kỳ đầu trúng là cử nhân võ, dự trúng 2 kỳ là tú tài võ. Đối với cử nhân võ thì ngày xướng danh, phúc hạch, hỏi từ 3 - 4 câu ở sách Võ kinh, Tứ thư, Ngũ kinh. Ai thông suốt Võ kinh và cả Tứ thư, lý số thì được xếp hạng đầu bảng. Các cuộc thi Hương võ thường được triều đình tổ chức tại các trường thi ở Thừa Thiên, Bình Định, Hà Nội, Thanh Hóa. Người nào đậu cử nhân, tú tài trong các kỳ thi này sẽ được tham gia kỳ thi hội để chọn tiến sĩ, phó bảng.
Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, trong kỳ thi Hội võ, các võ sinh phải trải qua 3 nội dung thi, người nào thi trúng cả ba lại kiêm thông chữ thì cho vào thi tại cung điện nhà vua. Tại đây, võ sinh nào có điểm số cao về binh pháp, văn lý sẽ đỗ tiến sĩ võ. Những võ sinh không được vào thi tại cung điện nhà vua liệt làm phó bảng võ. Sau đó, các võ sinh thi đỗ sẽ được triều đình vinh danh, bổ nhiệm vào các chức quan võ.

Thầy trò của môn phái Võ ta - Hổ quyền đạo của võ sư Đoàn Phú trong một buổi tập luyện
Võ sư Đoàn Phú cho biết từ các ghi chép của sử sách cho thấy Võ kinh là võ học đã được nhà Nguyễn hệ thống chuẩn hóa thành giáo khoa phổ biến trên toàn quốc. Người học võ, bất cứ môn phái nào khi đi thi võ đều sử dụng các bài Võ kinh để thi tài. Tập tư liệu Võ kinh của môn phái Võ ta - Hổ quyền đạo mà hiện nay ông còn lưu giữ là tài liệu Võ kinh dùng để giảng dạy cho các môn sinh phục vụ các kỳ thi võ dưới thời nhà Nguyễn. Sau này, các bài Võ kinh vẫn được truyền dạy bên cạnh các bài võ cổ truyền của môn phái.
Qua tài liệu tìm thấy ở Tổ đường môn phái Võ ta - Hổ quyền đạo cho thấy, Võ kinh thời Nguyễn thực sự là hệ thống bài bản được chuẩn hóa thành sách, đưa vào giảng dạy trong nhà trường võ cũng như các môn phái võ để phục vụ cho các kỳ thi võ nhằm tuyển chọn Võ quan. Đây cũng là tài liệu minh chứng rõ nét nhất về Võ kinh còn được lưu giữ cho đến nay.
Theo Thanh Niên