
Bắt cá ở vuông tôm.
Mỗi năm một lần, đại gia đình tôi lại tụ về nhà dì Tư, nơi có vuông tôm rộng và cũng là chỗ anh em giữ lệ tụ họp bấy lâu nay. Dượng Tư thông báo trước hơn một tuần, chọn ngày chủ nhật để mọi người thu xếp công việc, về đủ mặt.
Một ngày trước khi bắt cá, dượng Tư cho bơm nước, đến sáng là vuông cạn vừa tầm. Tờ mờ sáng, căn bếp đã sáng đèn, dượng Tư bắt con gà vườn, nấu nồi cháo nóng bốc khói nghi ngút. Tiếng xoong nồi, tiếng trò chuyện đánh thức cả một buổi sáng yên bình. Mọi người ăn vội chén cháo cho ấm bụng rồi hối hả ra vuông, như sợ chậm chân là cá chạy mất.
Bốn người đàn ông chia nhau ra hai bên vuông, tay kéo theo cái thùng xốp và chiếc xuồng nhỏ. Hai bên vừa đi vừa dồn cá về giữa. Trên bờ, phụ nữ và trẻ con xách theo thùng, giỏ, vừa dõi theo từng bước vừa hồi hộp chỉ trỏ: “Ở kia, ở kia, cá lặn rồi kìa!”. Thỉnh thoảng lại có tiếng reo vang khi một con cá lóc to tướng bị túm gọn… Gặp được con cua còn sót lại từ vụ trước, mấy đứa nhỏ mừng húm, cứ ríu rít cười như bắt được báu vật.
-logo-20260814-083518-2.jpg)
Mấy đứa nhỏ thích thú khi bắt được cua.
Nắng dần lên, vuông tôm dần trơ đáy, xuồng đã đầy cá, hai thùng phuy cũng chẳng còn chỗ chứa. Mồ hôi đẫm lưng áo nhưng ai cũng vui vì thu hoạch khá. Cá được đưa vào nhà và lúc này “trận chiến” lại chuyển sang sân sau. Đến lượt các dì, các mợ “ra tay”. Mỗi người một việc, người rửa, người lựa, người xếp cá thành từng loại. Nhà nào thích loại nào thì riêng phần loại đó nhiều hơn.
Mẹ tôi mê nhất cá phi, bảo rằng làm khô loại này ngon, để dành nhâm nhi mấy ngày họp mặt là “nhất xứ”. Không khí vừa bận rộn vừa ấm áp, chẳng ai phân công mà việc nào ra việc đó, trôi chảy như cái tình thân đã quen từ lâu.
Trong những rổ cá đầy ắp, ai cũng nhớ phần của bà ngoại. Bà ngoại đã lớn tuổi nên không theo ra vuông. Nhưng con cá lóc bự nhất được để riêng, con lươn hiếm hoi bắt được cũng chừa lại để bà nấu cháo. Mấy anh em cứ lựa phần ngon nhất dành cho bà, như một thói quen đã thành nếp.
Khi mọi người lựa cá, dì Tư tranh thủ bắt mấy con cá rô để làm bữa trưa. Dì ra vườn chặt vài bắp chuối đem vào xắt mỏng, hái nắm rau thơm, mấy cọng rau răm, thêm vài trái ớt cay cay. Chẳng mấy chốc, nồi bún cá nghi ngút khói đã thơm lừng cả sân. Mấy anh thanh niên thì lựa mấy con cá lóc đem nướng trên bếp than, mùi cá cháy xém thơm lừng. Đám nhỏ thì mê nhất nồi cua luộc, cứ đứng quanh chờ, nắp nồi chỉ cần bật hơi là mắt đã sáng rỡ.



Cá được lựa ra theo từng loại.
Bữa cơm quây quần, chỉ cần tô bún cá dân dã, con cá lóc nướng chấm muối ớt, dĩa rau vườn xanh mướt… là đủ rộn ràng tiếng nói cười. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện làm ăn, chuyện con cháu cứ thế ríu rít bên mâm cơm.
Ăn xong, mọi người lại bắt tay vào mớ cá vừa bắt được, một phần chia nhau, phần còn lại được làm sạch, ướp gia vị rồi xếp ngay ngắn lên nia đem phơi. Dưới nắng, từng thớ cá dần ánh lên màu vàng óng, mang theo vị mặn mòi quen thuộc của đồng quê.
Với gia đình tôi, mùa xả vuông không chỉ là một công việc theo mùa. Đó còn là dịp để những người thân trở về ngồi lại bên nhau, để tình thân được nối dài từ những điều giản dị như thế.
Bài và ảnh: BẢO TRÂN