
Nuôi cá lồng bè tại xã đảo Hòn Nghệ.
Tháo gỡ khó khăn cho người nuôi biển
An Giang có vùng biển diện tích khoảng 63.000km², đường bờ biển phần đất liền dài hơn 200km, cùng hệ thống hơn 140 đảo lớn, nhỏ. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao. Hiện toàn tỉnh có khoảng 5.500 lồng bè nuôi cá biển, sản lượng khoảng 6.000 tấn/năm; diện tích nuôi nhuyễn thể khoảng 25.000ha, sản lượng hơn 113.000 tấn/năm. Nghề nuôi biển tạo việc làm, thu nhập cho người dân ven biển, hải đảo và cung cấp nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Tuy nhiên, phần lớn hoạt động nuôi biển vẫn theo phương thức truyền thống, quy mô nhỏ lẻ. Lồng bè gỗ còn phổ biến, khả năng chống chịu trước thời tiết bất lợi hạn chế. Liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; nguồn giống, kỹ thuật sản xuất và đầu ra sản phẩm cũng là những vấn đề cần tháo gỡ.
Ông Đinh Văn Sơn nuôi cá lồng bè tại xã Hòn Nghệ cho biết người nuôi cá bớp, cá mú đang lo lắng trước tình trạng nguồn nước có dấu hiệu ô nhiễm, cá nuôi chết gây thiệt hại. Trong khi đó, cá giống khan hiếm, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Người nuôi phải bỏ vốn mua giống, thức ăn và chăm sóc trong thời gian dài, nhưng giá bán bấp bênh, thu nhập không ổn định. Nhiều hộ thua lỗ, buộc phải bỏ nghề.
Những khó khăn hiện tại đặt ra yêu cầu chuyển đổi phương thức nuôi theo hướng công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao để hạn chế rủi ro, nâng năng suất và hiệu quả kinh tế. Việc thay lồng bè gỗ bằng lồng nhựa HDPE, kết hợp theo dõi môi trường, kiểm soát con giống và áp dụng quy trình kỹ thuật phù hợp sẽ góp phần nâng cao khả năng chống chịu, giảm thiệt hại trong sản xuất. Tuy nhiên, để chuyển đổi, người dân cần được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, dịch vụ hậu cần và đầu ra ổn định.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lê Hữu Toàn cho biết từ nguồn vốn các chương trình, dự án khuyến nông của Trung ương và tỉnh, ngành nông nghiệp đã triển khai chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ nuôi biển đến doanh nghiệp, người dân. Công tác quan trắc môi trường, kiểm soát dịch bệnh được tăng cường nhằm hỗ trợ người nuôi chủ động hơn trong sản xuất.

Nuôi cá lồng bè tại xã Sơn Hải.
Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị
Theo ông Lê Hữu Toàn, một trong những khó khăn của ngành nuôi biển hiện nay là không gian nuôi chưa được bố trí đồng bộ. Một số khu vực phát triển tự phát, tiềm ẩn nguy cơ chồng lấn với các hoạt động kinh tế khác. Thủ tục giao khu vực biển còn vướng mắc; hạ tầng điện, nước ngọt, dịch vụ hậu cần và vận chuyển tại một số địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển quy mô công nghiệp.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, tỉnh đang xây dựng đề án phát triển nuôi biển giai đoạn 2026 - 2030 gắn quy hoạch không gian nuôi với tổ chức lại sản xuất và chuyển đổi nghề khai thác thủy sản. Định hướng đề ra là phát triển nuôi nhuyễn thể tại vùng bờ, nuôi biển công nghiệp và bán công nghiệp ở vùng lộng; nghiên cứu mô hình nuôi công nghiệp quy mô lớn tại vùng khơi phù hợp với điều kiện thực tế.
Về thu hút đầu tư, tỉnh đã chấp thuận chủ trương cho 5 doanh nghiệp thực hiện các dự án nuôi biển, tổng diện tích khoảng 2.900ha, vốn đầu tư hơn 1.115 tỷ đồng. Ngoài ra, có 8 dự án được đưa vào danh mục kêu gọi đầu tư năm 2026, với diện tích khoảng 2.480ha và tổng vốn dự kiến khoảng 1.730 tỷ đồng. Các dự án được kỳ vọng sẽ hình thành vùng nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ mới và thúc đẩy tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, An Giang có thể xem xét mô hình khu nuôi biển công nghiệp hoặc làng nuôi biển hiện đại. Theo đó, doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, còn người dân và hợp tác xã tham gia sản xuất, tiếp cận con giống, kỹ thuật, giải pháp quản lý dịch bệnh và hệ thống tiêu thụ sản phẩm.
Cách tổ chức này có thể giúp người dân giảm áp lực đầu tư riêng lẻ, khắc phục tình trạng sản xuất phân tán và tăng cường liên kết với doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả còn phụ thuộc vào cơ chế phối hợp, phương án phân chia lợi ích, khả năng tiếp cận dịch vụ và đầu ra cho sản phẩm của người nuôi.
Một hướng đi khác là gắn phát triển nuôi biển với chuyển đổi nghề khai thác thủy sản. Ông Lê Hữu Toàn cho biết: “Sở Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng chính sách hỗ trợ ngư dân giải bản tàu cá, đào tạo nghề, chuyển sang nuôi biển công nghệ cao; đồng thời nghiên cứu hỗ trợ tiền thuê mặt nước tại các khu công nghiệp nuôi biển. Giải pháp này hướng đến tạo sinh kế mới, giảm áp lực khai thác ven bờ và góp phần chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU)”.
Phát triển nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao không chỉ là thu hút dự án hay tăng số lượng lồng nuôi mà quan trọng hơn là tổ chức lại sản xuất theo hướng giảm rủi ro, nâng cao giá trị sản phẩm và cải thiện thu nhập cho người dân. Khi quy hoạch, hạ tầng, công nghệ, vốn và thị trường được khai thác, thực hiện đồng bộ, tiềm năng biển của An Giang sẽ chuyển hóa thành giá trị kinh tế bền vững, tạo sinh kế ổn định cho người dân ven biển, hải đảo.
GIA BẢO