Từng bước hoàn thiện khung thể chế
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong năm 2025, hệ thống thể chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được các cơ quan của Quốc hội và Chính phủ tích cực hoàn thiện. Nổi bật là việc ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, trong đó đã quy định rõ các chương trình, nhiệm vụ phục vụ phát triển CNCL.
Cùng với đó, Luật Công nghệ cao năm 2025 đã bước đầu xác lập các tiêu chí, khái niệm và chính sách liên quan đến công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và doanh nghiệp công nghệ chiến lược. Các luật liên quan như thuế, hải quan, đấu thầu cũng được điều chỉnh theo hướng tăng ưu đãi, tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các công nghệ lõi, dự kiến ban hành trong năm 2026. Đây được xem là nền tảng quan trọng nhằm định hướng phát triển công nghệ, sản phẩm và thị trường trong dài hạn.

6G được định hình như một nền tảng AI-native, hợp nhất ba trụ cột công nghệ cốt lõi.
Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư tại các thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ đang chủ trì rà soát, đề xuất sửa đổi Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo hướng bám sát nhu cầu thực tiễn, lợi thế quốc gia và khả năng hình thành chuỗi giá trị.
Danh mục này được định hướng phân loại rõ ràng giữa các nhóm công nghệ có thể triển khai ngay với vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp và các nhóm công nghệ nền tảng cần Nhà nước đầu tư, hỗ trợ. Cách tiếp cận này nhằm tránh dàn trải nguồn lực, đồng thời tạo điều kiện hình thành các ngành công nghiệp mới có giá trị gia tăng cao.
Trên thực tế, Việt Nam đã bước đầu hình thành các yếu tố nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược. Khung thể chế ban đầu được thiết lập; danh mục công nghệ và sản phẩm chiến lược từng bước hoàn thiện; một số doanh nghiệp đã làm chủ công nghệ lõi; hoạt động sở hữu trí tuệ gia tăng rõ rệt; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đang được xây dựng theo hướng dẫn dắt phát triển.
Về tiêu chuẩn, đến nay đã công bố 249 tiêu chuẩn quốc gia và 19 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phục vụ phát triển CNCL. Trong năm 2026, dự kiến xây dựng thêm 653 tiêu chuẩn quốc gia và 3 quy chuẩn kỹ thuật. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng đồng bộ, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm.
Song song với đó, hạ tầng khoa học và công nghệ cũng đang được tăng cường. Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Đề án phát triển hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phục vụ công nghệ chiến lược.
Một số dự án quy mô lớn đã được triển khai, như Trung tâm Vũ trụ Việt Nam với tổng mức đầu tư hơn 7.300 tỷ đồng; hay nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam do doanh nghiệp trong nước đầu tư. Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, các tập đoàn lớn đã đầu tư hàng nghìn GPU, bước đầu hình thành hạ tầng tính toán phục vụ nghiên cứu và phát triển AI.
Hoạt động sở hữu trí tuệ cũng ghi nhận xu hướng tăng trưởng tích cực. Trong 8 tháng, từ cuối tháng 6/2025 đến cuối tháng 2/2026, số đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích liên quan đến 11 nhóm công nghệ chiến lược của các chủ thể Việt Nam tăng khoảng 23%. Số văn bằng bảo hộ tăng tới 41%, cho thấy năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đang dần được cải thiện.
Khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn
Dù đạt được những kết quả bước đầu, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW vẫn bộc lộ khoảng cách đáng kể giữa định hướng và kết quả thực chất.
Theo Bộ Khoa học và công nghệ, trước hết, về định hướng và tổ chức triển khai, danh mục công nghệ chiến lược vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa tạo ra nhiều sản phẩm cụ thể có sức lan tỏa lớn. Việc gắn kết giữa công nghệ với nhu cầu thị trường và cấu trúc ngành kinh tế còn hạn chế.
Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương vẫn phân tán, chưa hình thành các chương trình công nghệ quy mô lớn, mang tính liên ngành, liên vùng. Điều này khiến nguồn lực bị chia nhỏ, thiếu trọng tâm.

Nghiên cứu công nghệ lõi dựa trên nhu cầu thị trường. Ảnh: TTXVN
Vai trò của doanh nghiệp – trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo – chưa được phát huy đầy đủ. Liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chưa tương xứng, dẫn đến hoạt động nghiên cứu chưa gắn chặt với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Về thể chế, cơ chế chính sách chưa đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học, công nghệ. Cơ chế tài chính cho nghiên cứu và phát triển còn nhiều vướng mắc, đặc biệt là cơ chế đặt hàng, mua sắm công nghệ và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học.
Trong lĩnh vực dữ liệu và hạ tầng số, việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng số dùng chung còn chậm. Hạ tầng tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu triển khai chuyển đổi số đồng bộ.
Nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ lõi, vẫn còn thiếu. Công tác đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực chưa gắn với nhu cầu thực tiễn.
Đáng chú ý, công tác theo dõi, giám sát và đánh giá vẫn nặng về báo cáo hành chính, chưa dựa trên hệ thống dữ liệu và bộ chỉ số thống nhất. Việc gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện chưa rõ ràng.
Trước yêu cầu cấp bách, Ban Chỉ đạo Trung ương đã xác định phương châm hành động “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ điểm nghẽn và tăng tốc triển khai.
Một trong những định hướng quan trọng là chuyển mạnh từ “triển khai nhiệm vụ” sang “tạo kết quả cụ thể, đo đếm được”, lấy sản phẩm đầu ra và tác động đến phát triển kinh tế – xã hội làm thước đo chủ yếu.
Cùng với đó, việc hoàn thiện và triển khai hiệu quả Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược cần được đẩy nhanh, bảo đảm lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm. Các nhóm công nghệ cần được phân loại rõ ràng để có cơ chế phù hợp, phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp và vai trò định hướng của Nhà nước.
Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; hoàn thiện cơ chế tài chính, thúc đẩy thị trường khoa học và công nghệ; đầu tư có trọng tâm vào hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Công nghệ chiến lược không chỉ là câu chuyện của khoa học, công nghệ, mà còn là bài toán tổng thể về thể chế, nguồn lực và phương thức quản trị. Việc tháo gỡ các điểm nghẽn mang tính hệ thống sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.