Chủ trì hội thảo có đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trần Hồng Thái, Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Nguyễn Kim Sơn, Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Lê Hải Bình, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Đoàn Minh Huấn nêu rõ: Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đặt ra yêu cầu cao hơn về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ quốc gia. Trong bối cảnh đó, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành động lực then chốt đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Nghị quyết số 57- NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập yêu cầu đột phá về tư duy, thể chế, nguồn nhân lực hạ tầng và phương thức tổ chức thực hiện, đồng thời chủ động nhận diện nghiên cứu chuẩn bị cho những xu hướng công nghệ mới có tác động sâu rộng. Trên tinh thần đó, nghiên cứu về công nghệ lượng tử là một hướng phát triển mới, tạo phát triển đột biến về công nghệ, làm thay đổi sâu sắc nhận thức và cải tạo thế giới cần được nhận diện sớm và quan tâm đúng tầm.
Đồng chí Trần Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: BẢO LONG)
Theo đồng chí Đoàn Minh Huấn, đây là lĩnh vực mới, chuyên sâu phát triển nhanh, còn nhiều ẩn số, có dư địa chiến lược lớn cho nghiên cứu, cả ở cấp độ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu về mặt kỹ thuật và nghiên cứu về mặt quản trị công nghệ để thật sự vì mục tiêu phục vụ con người; tăng cường tự chủ chiến lược vì lợi ích quốc gia dân tộc. Đây thuộc nhóm công nghệ chiến lược theo Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị . Vì vậy, nhận diện sớm xu hướng, đánh giá khách quan cơ hội, thách thức và chuẩn bị điều kiện cần thiết cho tương lai là việc phải làm.
Đồng chí Đoàn Minh Huấn nhấn mạnh, hội thảo thể hiện yêu cầu cấp thiết, kết nối chặt chẽ tư duy lý luận, đào tạo cán bộ, tham mưu chiến lược chính sách với tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, đồng chí cho rằng, đây không còn là câu chuyện riêng của phòng thí nghiệm hay cộng đồng nghiên cứu, mà có thể tác động sâu rộng đến mô hình phát triển, năng lực cạnh tranh, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tự chủ và vị thế quốc gia.
Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Trần Hồng Thái cho biết: Công nghệ lượng tử là một lĩnh vực khó, cả về khoa học, công nghệ hạ tầng, nguồn nhân lực và cách tổ chức thực hiện. Hiện nay, nhiều nội dung của công nghệ lượng tử trên thế giới vẫn đang được nghiên cứu thử nghiệm kiểm chứng. Nhưng nhiều quốc gia đã coi đây là một hướng công nghệ chiến lược, bởi nó liên quan trực tiếp đến chủ quyền số, an toàn thông tin và niềm tin của xã hội vào hạ tầng số quốc gia.
Các đại biểu phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: BẢO LONG)
Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhấn mạnh, công nghệ lượng tử có thể tạo ra các năng lực mới về đo lường, cảm biến, mô phỏng, tính toán, vật liệu. Những năng lực đó có thể phục vụ khoa học cơ bản, nhưng cũng có thể đi vào quốc phòng, an ninh, viễn thông, tài chính, y tế, năng lượng, tài nguyên, môi trường, công nghiệp công nghệ cao.
Theo đồng chí, nhân lực cho công nghệ lượng tử không thể đào tạo trong một vài tháng, không thể có ngay một khóa tập huấn. Đây là nhân lực liên ngành: vật lý, toán học, khoa học máy tính, mật mã, quang tử, vật liệu, điện tử, điều khiển, đo lường, phần mềm, dữ liệu và liên quan đến nhiều khoa học khác nhau, có cả khoa học xã hội nhân văn, là khoa học tôn giáo.
Đồng chí Trần Hồng Thái cho rằng, muốn có lực lượng đó, phải chuẩn bị sớm, có nhóm nghiên cứu, có phòng thí nghiệm và có chuyên gia trong và ngoài nước cùng tham gia; phải chủ động nhưng không nóng vội, không chạy đua toàn diện với các cường quốc nhưng không đứng ngoài quan sát; phải đi sớm về nhận thức, đi chắc về nền tảng, đi đúng vào những khâu tạo năng lượng, năng lực phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Các đại biểu tham dự hội thảo. (Ảnh: BẢO LONG)
Hội thảo đã được nghe 3 báo cáo về các chủ đề: Công nghệ lượng tử trong kỷ nguyên mới - tầm nhìn và kinh nghiệm quốc tế; Hiện trạng, điểm nghẽn và yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong phát triển công nghệ điện tử; Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và các nội dung cần triển khai trong giai đoạn tới.
Tại hội thảo, các đại biểu đã tập trung làm rõ các xu hướng phát triển chủ yếu của công nghệ lượng tử trên thế giới và tác động đặt ra đối với Việt Nam; nhận diện những nền tảng Việt Nam đã có, những điều kiện còn thiếu và các vấn đề cần chủ động lưu ý từ sớm cho phát triển công nghệ chiến lược này.
Hội thảo đã xác định cách tiếp cận phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, đưa ra nhiều giải pháp cho việc lựa chọn hướng ưu tiên nào trong công nghệ lượng tử; tổ chức thực hiện nguồn lực và phát triển nhân lực; thực hiện cơ chế tài chính để phát triển công nghệ lượng tử một cách thực chất dài hạn và có hiệu quả.
Hội thảo đưa ra nhiều giải pháp trong việc quản trị phát triển công nghệ lượng tử; đột phá ứng dụng cũng như bảo đảm an ninh, an toàn, tự chủ chiến lược, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc.
Các đại biểu tham dự hội thảo. (Ảnh: BẢO LONG)
Kết luận hội thảo, đồng chí Trần Hồng Thái bày tỏ cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia, các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp đã trao đổi, thảo luận và đóng góp nhiều ý kiến xác đáng, sâu sắc cho hội thảo.
Trên cơ sở các ý kiến tại hội thảo, tiếp tục hoàn thiện cách tiếp cận công nghệ lượng tử như một hệ sinh thái công nghệ chiến lược, không thu hẹp vào máy tính lượng tử, nhưng cũng không mở rộng quá mức dẫn tới dàn trải nguồn lực.
Phải lựa chọn một số hướng ưu tiên phù hợp với điều kiện Việt Nam trong giai đoạn trước mắt, nhất là mật mã hậu lượng tử và an toàn dữ liệu; cảm biến và đo lường; quang tử, vật liệu, linh kiện; mô phỏng, thuật toán, phần mềm; AI cho khoa học và đào tạo nhân lực liên ngành; nghiên cứu thiết kế cơ chế điều phối và triển khai theo hướng có đầu mối, có hạ tầng dùng chung, có bệ thử nghiệm, có cơ quan sử dụng, có doanh nghiệp tham gia và có tiêu chí đánh giá theo từng giai đoạn.
Cùng với đó, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ các đối tác tin cậy, các chuyên gia quốc tế và chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài; gắn hợp tác quốc tế với đào tạo nhân lực, chuyển giao tri thức, tiếp cận hạ tầng, chuẩn mực kỹ thuật và hình thành năng lực tự chủ trong nước.



Đọc nhiều