Người lính trở về từ chiến trường K

03/08/2026 - 12:34

 - Sau những năm tháng chiến đấu trên đất bạn Campuchia, mang trên mình thương tật 56%, cựu chiến binh Đỗ Văn Chức, ngụ xã An Biên (tỉnh An Giang) vẫn bền bỉ đi qua khó khăn, trở thành người tiên phong chuyển đổi mô hình tôm - lúa, tiếp tục cống hiến cho quê hương bằng nghị lực của người lính.

Cựu chiến binh Đỗ Văn Chức thăm lú trong vuông tôm. Ảnh: AN LÂM

Trong căn nhà nhỏ nằm giữa vùng quê An Biên, tiếng cười con cháu luôn rộn rã mỗi chiều. Ít ai biết rằng người đàn ông hiền lành, đôi mắt đã mất đi một bên ấy từng đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến trường K, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Ông Chức là thương binh hạng 3/4, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 96, Sư đoàn 309, thuộc lực lượng pháo binh 120 ly tham gia làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Sinh năm 1963, sau ngày đất nước thống nhất, ông từng làm việc ở một xưởng máy kéo. Năm 1985, khi đơn vị giải thể, ông Chức viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Đó là thời điểm cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia vô cùng cam go.

Ông được biên chế vào đơn vị pháo binh, làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực cho bộ binh trên các hướng chiến đấu ở tỉnh Battambang, giáp biên giới Thái Lan. Pháo binh đứng sau tuyến đầu vài ki-lô-mét nhưng không vì thế mà ít hiểm nguy hơn. Những trận phản pháo của địch luôn dội xuống bất ngờ, dữ dội.

Điều ám ảnh hơn cả là sốt rét rừng, thiếu nước uống và cuộc sống kéo dài trong những cánh rừng sâu. Các chiến sĩ phải đào nhà âm - những căn hầm nằm sâu dưới mặt đất để tránh pháo kích. 2 năm sống giữa rừng, ông gần như tách biệt hoàn toàn với đời sống bình thường.

Ông kể có thời điểm sốt rét rừng cướp đi sinh mạng của nhiều chiến sĩ hơn cả đạn bom. Đồng đội vừa sốt cao vừa thiếu thuốc men, có người chưa kịp bước vào trận đánh đã mãi mãi nằm lại. Những ký ức ấy theo ông suốt cuộc đời.

Năm 1987, trong chiến dịch đánh vào cứ điểm 321 của quân Pol Pot sát biên giới Thái Lan, ông Chức bị trúng pháo phản lực. Mảnh đạn xuyên vào ngực, làm hỏng một mắt, nhiều ngón tay bị thương nặng. Nhưng vết thương trên cơ thể chưa đau bằng nỗi đau mất đồng đội.

Trong số những thanh niên cùng quê lên đường năm ấy, nhiều người đã không trở về. Có những trận đánh ác liệt đến mức đơn vị gần như bị xóa sổ. Nhiều đồng đội nằm lại giữa rừng sâu, chưa kịp đưa về đất mẹ. Mỗi lần nhắc đến đồng đội, mắt của ông Chức vẫn đỏ hoe. “Người còn sống phải sống sao cho xứng đáng với những đồng đội đã nằm lại”, ông Chức nói.

Sau hơn nửa năm điều trị qua nhiều bệnh viện quân y, người lính pháo binh trở về quê hương với thương tật 56%. Trở về từ chiến trường K, những ngày đầu tiếng pháo, tiếng súng và ký ức về những trận đánh ác liệt nhiều lần trở lại trong những giấc ngủ chập chờn của ông. Nhưng rồi, nhịp sống nơi đồng quê đã giúp người lính năm nào dần nguôi ngoai.

Từ những buổi cày ruộng dưới nắng, lội đồng thăm lúa đến mùa tôm theo con nước, mùi bùn non đã thay dần mùi khói súng. Mỗi mùa lúa chín, mỗi con nước đầy như lặng lẽ xoa dịu vết thương mà chiến tranh để lại, để người lính năm xưa tiếp tục sống cuộc đời bình dị nhưng đầy nghị lực.

Ở vùng đất An Biên, nơi 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt, hơn 10 năm trước, ông Chức là một trong những người tiên phong chuyển đổi từ canh tác lúa 2 vụ sang mô hình tôm - lúa thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhiều người khi ấy còn e dè, nhưng người lính năm xưa vẫn mạnh dạn đi trước. Mô hình mang lại hiệu quả, đời sống gia đình ông dần khấm khá. Không giữ kinh nghiệm cho riêng mình, ông tích cực vận động người dân cùng chuyển đổi sản xuất, chia sẻ cách làm ăn, góp phần thay đổi diện mạo quê hương.

AN LÂM