Phân cấp, phân quyền thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia

06/07/2026 - 17:31

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 3 Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, các mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn lực được tổ chức lại trong một khuôn khổ thống nhất, nhằm giảm chồng chéo về địa bàn, đối tượng, nội dung hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quản lý.

Chú thích ảnh

Trường PTDTNT tỉnh Vĩnh Long được đầu tư khang trang, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh đồng bào Khmer ở địa phương. Ảnh: Lê Thúy Hằng/TTXVN

Phân cấp mạnh mẽ cho địa phương

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025; giai đoạn I, từ năm 2026 đến năm 2030, được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026.

Quá trình triển khai diễn ra đồng thời với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đầu mối tham mưu, đội ngũ cán bộ và phương thức phối hợp tại nhiều địa phương có sự thay đổi. Yêu cầu đặt ra là bảo đảm chính sách được thực hiện liên tục, không để gián đoạn ở cơ sở; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, từng cấp chính quyền.

Việc tổ chức lại không làm giảm mức độ ưu tiên đối với xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo. Cơ chế quản lý được chuyển mạnh theo hướng phân cấp, phân quyền. Trung ương tập trung ban hành cơ chế, chính sách, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát; địa phương chủ động lựa chọn nhiệm vụ, phân bổ, lồng ghép nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện theo tinh thần “Địa phương quyết - Địa phương làm - Địa phương chịu trách nhiệm”.

Kết quả hoàn thiện thể chế, chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình, đến tháng 6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan có liên quan đã trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền 54 văn bản, gồm: 1 Nghị quyết của Quốc hội; 2 Nghị định và 1 Nghị quyết của Chính phủ; 7 Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; 2 Quyết định của Ban Chỉ đạo Trung ương, 9 Thông tư và 32 văn bản hướng dẫn của các bộ, cơ quan trung ương (trong đó có 16/54 văn bản là quy phạm pháp luật, chiếm 30%). Hoàn thành đầy đủ cơ chế chính sách quản lý, hướng dẫn thực hiện, sớm hơn 1 tháng so với tiến độ được Chính phủ giao. Đây là nển tảng pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình.

Mặc dù số lượng văn bản đã giảm 79% so với giai đoạn trước, nhưng vẫn còn tương đối lớn, không thuận tiện trong tra cứu và áp dụng. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, ngay trong tháng 6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã kịp thời ban hành Sổ tay hướng dẫn Chương trình để hệ thống hóa các quy định và hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai. Đồng thời, trong tháng 6/2026 đã tổ chức 8 lớp tập huấn kiến thức về Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới và các văn bản mới của Chương trình cho khoảng 12.000 cán bộ các cấp từ trung ương đến địa phương.

Ở địa phương, trên cơ sở văn bản của Trung ương, các tỉnh, thành phố đã từng bước cụ thể hóa Chương trình theo thẩm quyền. Đến hết tháng 6/2026, có 31/34 tỉnh, thành phố hoàn thành phân loại nhóm xã; 17/34 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình; 9/34 tỉnh, thành phố ban hành nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách và 4/34 địa phương ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới.

Một số địa phương đã chủ động xây dựng đề án, chính sách phù hợp với lợi thế và nhu cầu thực tế, như phát triển sản phẩm OCOP, kinh tế tuần hoàn, du lịch nông thôn; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, tiến độ ban hành văn bản giữa các địa phương còn chưa đồng đều.

Chú thích ảnh

Khơi thông nội lực thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia các xã miền núi Nghệ An. Ảnh: TTXVN

Phân bổ, giao 70.000 tỷ đồng kế hoạch đầu tư công

Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả, tiến độ xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và dự toán, kế hoạch vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình năm 2026.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính hoàn thành trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phân bổ, giao 70.000 tỷ đồng kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026-2030 của Chương trình (Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 18/6/2026 của Chính phủ; Quyết định số 1160/QĐ-TTg ngày 29/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ). Đồng thời, đã có văn bản gửi Bộ Tài chính đề nghị báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án phân bổ 9.000 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình năm 2026 cho các bộ, ngành trung ương và địa phương.

Đến nay, kết quả giải ngân vốn ngân sách Trung ương của 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 trong năm 2026 đảm bảo: Công tác rà soát, tổ chức thực hiện và theo dõi giải ngân đã được các bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát từng nhiệm vụ, dự án, đối chiếu số liệu, hoàn thiện thủ tục chuyển nguồn và tổ chức thực hiện, giải ngân số vốn của 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Dân tộc và Tôn giáo thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc; thống nhất phương pháp thu thập, tổng hợp và theo dõi số liệu hằng tháng, từng bước nâng cao tính đầy đủ, thống nhất của thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Việc rà soát, hoàn thiện thủ tục và duy trì theo dõi thường xuyên đã tạo chuyển biến bước đầu trong thực hiện, thanh toán và quyết toán vốn, làm cơ sở để tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân trong những tháng cuối năm 2026.

Về số vốn ngân sách Trung ương đã làm thủ tục kéo dài, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 30/6/2026, số vốn ngân sách Trung ương đã làm thủ tục kéo dài theo quy định tại Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội được Bộ Tài chính theo dõi là 17.671,75 tỷ đồng; trong đó, vốn đầu tư công là 6.814,03 tỷ đồng, kinh phí thường xuyên là 10.857,72 tỷ đồng.

Nguồn kinh phí này được phân chia theo từng Chương trình như sau: Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới khoảng 2.047 tỷ đồng (bao gồm 1.138 tỷ đồng vốn đầu tư công, 908 tỷ đồng kinh phí thường xuyên). Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững khoảng 5.122 tỷ đồng (bao gồm 1.610 tỷ đồng vốn đầu tư công, 3.512 tỷ đồng kinh phí thường xuyên). Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiếu số và miền núi là 10.502 tỷ đồng (bao gồm: 4.065 tỷ đồng vốn đầu tư công, 6.436 tỷ đồng kinh phí thường xuyên).

Về tình hình giải ngân, đối với vốn đầu tư công, lũy kế giải ngân đến hết ngày 30/6/2026 là 2.714,03 tỷ đồng, đạt 23,5% kế hoạch (bao gồm kế hoạch NSTW kéo dài và NSĐP), trong đó NSTW giải ngân 1.506,09 tỷ đồng, đạt 22,1% kế hoạch đã kéo dài.

Cụ thể, Chương trình MTQG phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khoảng 987,88 tỷ đồng, đạt 24,3% kế hoạch; Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới khoảng 214,57 tỷ đồng, đạt 18,9% kế hoạch; Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững khoảng 303,64 tỷ đồng, đạt 18,9% kế hoạch.

Đối với kinh phí thường xuyên, lũy kế giải ngân đến ngày 30/6/2026 là 1.827,32 đồng, đạt 15,2% dự toán (bao gồm dự toán đã làm thủ tục kéo dài); trong đó vốn NSTW giải ngân là 1.699,01 tỷ đồng, đạt 15,6% dự toán.

Cụ thể, Chương trình MTQG phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi khoảng 1.119,80 tỷ đồng, đạt 17,4% kế hoạch; Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới khoảng 105,02 tỷ đồng, đạt 11,6% kế hoạch; Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững khoảng 474,20 tỷ đồng, đạt 13,5% kế hoạch.

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 6 tháng đầu năm 2026, các điều kiện nền tảng để triển khai Chương trình đã cơ bản được hình thành. Hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn ở Trung ương được ban hành đầy đủ, tương đối đồng bộ, tạo khung pháp lý thống nhất để tổ chức thực hiện Chương trình trên phạm vi cả nước. Việc giảm số lượng văn bản, ban hành Sổ tay hướng dẫn và tổ chức tập huấn góp phần thống nhất cách hiểu, cách làm giữa các bộ, ngành và địa phương.

Ở cấp Trung ương, Bộ máy chỉ đạo, điều phối được kiện toàn theo hướng tập trung, thống nhất. Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, Cơ quan Thường trực và cơ quan giúp việc đã được xác lập; tạo đầu mối tham mưu, điều phối, theo dõi và xử lý các vấn đề liên ngành. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phát huy vai trò cơ quan chủ Chương trình, chủ động phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan trong hoàn thiện thể chế, chuẩn bị nguồn lực và hướng dẫn tổ chức thực hiện.

Theo TTXVN