
Chị Thị Đường bán rau chốc, hẹ nước tại chợ quê, những thức rau dân dã theo mùa mưa.
Hồi đó, ruộng quê chưa có nhiều thuốc cỏ, hóa chất như bây giờ. Đồng đất còn nhiều chỗ cho những thứ cây cỏ tự mọc, tự sống theo con nước. Hẹ nước, rau chốc cũng vậy, chúng theo mùa mà lên, len giữa những khoảng ruộng, ven mương, nơi đất còn giữ được độ mềm của bùn và nước.
Nhà nào muốn ăn thì ra hái, không ai nghĩ tới chuyện đem bán. Rau mọc đó, cứ cúi xuống lựa một lát là có rổ rau xanh đem về. Hái đủ cho cả nhà ăn một bữa, phần còn lại để hôm sau. Cái thời người ta còn xem rau mọc ngoài đồng là của trời đất cho, chứ chưa nghĩ nó có thể trở thành một thứ hàng hóa nằm ngay ngắn trên sạp chợ.
Rau chốc nhìn hơi giống rau mác, nhưng thân và lá nhỏ hơn, mềm hơn. Muốn có một bó đẹp không phải cứ đưa tay gom đại mà được. Người hái phải lom khom, lựa từng cọng, nhẹ tay kéo lên. Thân rau mềm, gặp tay mạnh là đứt. Hái một bó coi vậy mà lâu, có khi lưng mỏi, chân lấm bùn, tay dính đất mà cái rổ vẫn chưa đầy.

Rau chốc, hẹ nước xanh non ra chợ sau những cơn mưa.
Hồi nhỏ đâu ai kể cho nghe những chuyện cực ấy. Chỉ biết ra ruộng hái rau rồi về, một lát là đủ. Một rổ rau xanh đặt bên bếp, má rửa sạch, cắt gọn, vậy là có thêm món cho bữa cơm.
Rau chốc, hẹ nước chấm mắm kho thì thiệt tình khó quên. Mắm kho sôi liu riu, mùi thơm bay quanh căn bếp, dọn thêm mấy miếng chuối chát, bới nồi cơm nóng. Rau có vị thanh, hơi ngai ngái của đồng ruộng; mắm đậm, chuối chát làm dịu lại. Những thứ giản dị vậy mà ăn hết chén cơm này tới chén khác.
Có hôm má nấu canh chua. Rau bỏ vô sau cùng, vừa chín tới thì nhắc xuống. Cọng rau mềm mà còn giữ chút giòn, nước canh chua thanh, ăn với cá kho. Một bữa cơm chẳng có gì sang trọng, nhưng người ngồi quanh mâm khi ấy đông đủ. Chỉ cần vậy là thấy ngon.
Bây giờ nghĩ lại, có lẽ cái ngon không chỉ nằm trong món ăn. Nó nằm ở cái thời người trong nhà còn ngồi đủ quanh mâm. Nằm trong tiếng muỗng chạm vào chén, tiếng mưa ngoài hiên, tiếng má gọi con vô ăn cơm. Nằm trong cái rổ rau hái vội ngoài ruộng, còn dính chút bùn ở gốc.
Sáng nay gặp chị Thị Đường bán rau, tôi đứng lại lâu hơn một chút. Những bó rau được buộc gọn, xếp trước mặt. Chị cười, đưa cho khách một bó hẹ nước, rồi lựa thêm mấy bó rau chốc. Nhìn đôi tay người bán rau, tự nhiên thấy thương công hái. Những cọng rau mềm kia đâu phải cứ ra ruộng là gom được. Mỗi bó là một hồi lom khom giữa đồng, một chút bùn đất bám chân, một chút nắng mưa đổi màu da.
Tôi mua liền mấy bó. Nhà ăn không hết cũng được. Mua để ủng hộ chị, mà cũng như mua lại một chút mùa xưa.

Rau chốc, hẹ nước ăn kèm cá kho giúp bữa cơm quê mộc mạc mà đậm đà.
Miệt Thứ bây giờ vẫn còn những mùa rau quê như vậy. Vùng này nuôi tôm, làm lúa xen canh nên đất có thời gian nghỉ, đồng ruộng không phải lúc nào cũng chạy theo hai, ba vụ lúa liên tiếp. Việc sử dụng thuốc cỏ, hóa chất cũng ít hơn những vùng chuyên canh. Nhờ vậy, hẹ nước, rau chốc và nhiều thứ rau đồng còn có chỗ sống.
Ở những cánh đồng làm lúa hai, ba vụ, chuyện bắt gặp một đám rau mọc tự nhiên giữa ruộng ngày càng khó. Đồng đất thay đổi theo cách của nó. Người ta cần năng suất, cần mùa vụ, cần tính toán chi phí và lợi nhuận. Chuyện đó cũng là lẽ thường của cuộc sống. Chỉ có những người từng ăn qua mớ rau hái ngoài đồng mới hiểu, mỗi lần một loài rau quê biến mất là mình mất đi một chút ký ức. Ngày trước, hái một lát là đủ cả nhà ăn. Không ai cân, không ai hỏi giá. Bây giờ phải chờ đúng mùa, gặp đúng chợ, gặp người còn chịu khó hái đem bán.
Chiều nay, bó rau mua được sẽ nằm trên mâm cơm. Có lẽ sẽ là nồi canh chua, hoặc một dĩa rau luộc chấm mắm kho, thêm mấy miếng chuối chát. Rau chốc, hẹ nước cứ để nguyên cái vị đồng quê của nó. Ăn một miếng, biết đâu nghe được tiếng mưa năm nào rơi lộp bộp trên mái nhà cũ. Và biết đâu, trong cái xanh non của bó rau trước mặt, có cả một mùa thơ ấu chưa chịu mất đi.
AN LÂM