Tăng trưởng GDP tiệm cận mục tiêu cả năm

04/10/2026 - 07:50

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao nhờ các động lực tăng trưởng truyền thống là đầu tư công, xuất khẩu-công nghiệp; dịch vụ. Bên cạnh đó, các động lực tăng trưởng mới, gồm khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, có tác dụng hỗ trợ cho tăng trưởng.

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Tại cuộc họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế-xã hội quý III và chín tháng năm 2026 diễn ra ngày 3/10, Cục Thống kê cho biết, tăng trưởng kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tích cực, quan trọng trên hầu hết các ngành, lĩnh vực.

Tăng trưởng GDP 9 tháng ước đạt 9,01%

Cục trưởng Thống kê Nguyễn Thị Hương cho biết, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III ước đạt 9,95%, tăng trưởng 9 tháng ước đạt 9,01% so với cùng kỳ năm 2025. Đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế là khu vực công nghiệp và xây dựng với mức tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35%.

Đáng lưu ý trong năm đầu tiên được “khoán” chỉ tiêu tăng trưởng, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên, tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn và được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ như Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Tĩnh… Bên cạnh đó, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đã tăng ở cả 34 địa phương, nhiều địa phương có chỉ số IIP tăng khá cao nhờ sự gia tăng sản xuất trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất và phân phối điện.

Theo bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, một trong những điểm sáng của bức tranh kinh tế là tăng trưởng sản xuất công nghiệp không còn tập trung đơn lẻ vào các ngành có lợi thế như điện tử và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mà có tính lan tỏa tương đối rộng rãi trên cả nước. Chất lượng tăng trưởng cũng rõ nét hơn qua sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất hướng tới mở rộng năng lực sản xuất dài hạn, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng 15,4% của nhóm sản xuất sản phẩm là tư liệu sản xuất, cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng 11,5% của nhóm mặt hàng tiêu dùng.

Phân tích sâu hơn về dữ liệu kinh tế quý III và 9 tháng qua, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Thống kê Hệ thống tài khoản quốc gia nhận định tăng trưởng kinh tế được nâng đỡ bởi ba động lực liên kết, gồm đầu tư công; công nghiệp và xuất khẩu; tiêu dùng trong nước. Đầu tư công có vai trò dẫn dắt tăng trưởng thông qua việc tạo thêm khối lượng sản xuất; công nghiệp và xuất khẩu có vai trò trụ cột; tiêu dùng trong nước tiếp tục tăng trưởng, đóng vai trò ổn định tổng cầu, góp phần nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài.

Cùng với đà tăng trưởng cao, Việt Nam tiếp tục giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Cụ thể, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, phối hợp đồng bộ với chính sách kinh tế vĩ mô khác, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay cơ bản ổn định. Thị trường chứng khoán chính thức được Tổ chức xây dựng và quản lý chỉ số chứng khoán toàn cầu (FTSE Russel) nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, tạo điều kiện mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn đầu tư quốc tế. Hoạt động đầu tư phát triển tiếp tục đạt nhiều kết quả khả quan với mức tăng trưởng ấn tượng trong thu hút vốn FDI; vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng hơn 15% so với cùng kỳ; thu ngân sách nhà nước đạt gần 2,2 triệu tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán năm và tăng hơn 12% so với cùng kỳ.

Sức ép gia tăng trong quý IV

Kết quả tăng trưởng kinh tế 9,01% trong 9 tháng được đánh giá là mức rất cao, tạo nền tảng quan trọng để phấn đấu mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10%. Tuy nhiên, Cục trưởng Thống kê Nguyễn Thị Hương nhận định việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đề ra cho năm 2026 là nhiệm vụ rất thách thức, đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị.

Kết quả tăng trưởng kinh tế 9,01% trong 9 tháng được đánh giá là mức rất cao, tạo nền tảng quan trọng để phấn đấu mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10%. Tuy nhiên, việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng đề ra cho năm 2026 là nhiệm vụ rất thách thức, đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị.

Cục trưởng Thống kê Nguyễn Thị Hương

Theo Cục Thống kê, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm từ 10%, tốc độ tăng trưởng quý IV phải đạt khoảng 12,5%. Trước hết, cần kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với đánh giá hiệu quả đầu tư, bảo đảm chất lượng dự án công trình. Để giữ nhịp tăng trưởng xuất khẩu, cần có các giải pháp tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại thế hệ mới đã ký kết để mở rộng thị trường, phát triển dịch vụ logistics nhằm giảm chi phí vận chuyển hàng hóa. Cục Thống kê kiến nghị các bộ, ngành, địa phương thúc đẩy động lực tiêu dùng thông qua triển khai hiệu quả các chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng gia tăng sức mua trong nước; thúc đẩy du lịch và các ngành dịch vụ…

Theo quy luật, giải ngân vốn đầu tư công thường tăng tốc vào cuối năm nhưng nguồn vốn này chỉ tác động trực tiếp đến GDP quý IV khi vốn đầu tư chuyển nhanh thành khối lượng xây dựng và năng lực sản xuất thực tế. Nếu hoạt động đầu tư công vẫn gặp khó khăn về thủ tục điều chỉnh dự án, công tác giải phóng mặt bằng, nguồn cung ứng vật liệu…, thì rất có thể độ trễ của đầu tư công sẽ kéo dài hơn, chưa chuyển kịp thành sản lượng của ngành xây dựng, cung ứng vật liệu để tác động ngay đến tăng trưởng quý IV.

Riêng đối với nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân chín tháng đã tăng 4,52% so với cùng kỳ, lạm phát cơ bản (không tính yếu tố tăng giá) tăng 4,26%, gây áp lực rất lớn trong công tác điều hành những tháng cuối năm. Bà Nguyễn Thị Thu Oanh, Trưởng ban Thống kê Dịch vụ và Giá chỉ rõ áp lực lạm phát cuối năm đến từ ba yếu tố. Đó là rủi ro giá năng lượng và nguyên vật liệu thế giới; nhu cầu tiêu dùng cuối năm tăng cao theo quy luật; biến động giá nguyên liệu nhập khẩu, tỷ giá và chi phí vận chuyển có thể tiếp tục truyền dẫn vào giá thành sản xuất trong nước. Nhiệm vụ đặt ra trong công tác điều hành giá cuối năm là cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá các mặt hàng thiết yếu, chủ động bảo đảm nguồn cung để hạn chế tác động lan tỏa đến mặt bằng giá chung.

Theo Nhân Dân