Trường đại học sẽ khó lên đại học?

06/01/2026 - 14:28

Dự thảo nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học 2025 thu hút sự quan tâm lớn của các cơ sở giáo dục đại học.

đại học - Ảnh 1.

Trường đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh có định hướng đầu tư chuyển đổi thành đại học + Ảnh: TRẦN HUỲNH

Một trong những nội dung gây chú ý là các điều kiện để một trường đại học được công nhận là "đại học".

Nhiều tiêu chí khắt khe

Theo dự thảo, để được công nhận là đại học, một cơ sở giáo dục đại học phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí khắt khe về quy mô, đội ngũ, nghiên cứu và quốc tế hóa (xem đồ họa).

Đối chiếu với thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng đó là những "ngưỡng" rất cao. 

Một chuyên gia thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh nhận định với các quy định này, "khó mà có trường đại học nào đạt được để chuyển thành đại học trong năm năm tới". Riêng đối với các đại học quốc gia, đại học vùng và các đại học đã được thành lập, theo lộ trình, đến năm 2030 phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên.

Cũng theo chuyên gia này, cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Luật Giáo dục đại học 2025, trong đó đại học (gồm các trường thành viên không có tư cách pháp nhân) và trường đại học được trao quyền tự chủ gần như tương đương nhau. Vấn đề nằm ở việc danh xưng "đại học" đang được đặt trong một hệ tiêu chuẩn rất cao.

"Thiên về số lượng"

đại học - Ảnh 2.

Trường đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh cũng đã có những bước chuẩn bị cho định hướng phát triển thành đại học. Tháng 5-2025, trường đã thành lập ba trường trực thuộc gồm Trường Y, Trường Dược và Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật y học, mỗi trường có hiệu trưởng riêng. Hiện trường còn bốn khoa và đã mở thêm một số ngành mới như hóa dược, dinh dưỡng, công tác xã hội...

GS.TS Trần Diệp Tuấn, Bí thư Đảng ủy Trường đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, cho rằng các yêu cầu trong dự thảo đang thiên nhiều về số lượng hơn là chất lượng.

"Những yêu cầu đặt ra đi sâu vào số lượng, trong khi chưa phản ánh đầy đủ chất lượng đào tạo. Đối với các trường đào tạo khối ngành sức khỏe, việc đạt được các tiêu chí này là rất khó vì quy mô đào tạo của khối ngành này vốn không lớn", ông Tuấn nói.

Theo ông, việc yêu cầu các trường đào tạo khoa học sức khỏe phải phát triển theo hướng đa lĩnh vực để trở thành đại học là chưa hợp lý. 

"Bản thân lĩnh vực sức khỏe đã bao hàm rất nhiều ngành nghề. Việc mở thêm ngành ngoài lĩnh vực cốt lõi là rất khó và không cần thiết", ông nhận định.

Ông Tuấn cũng cho rằng về bản chất, tên gọi "trường đại học" hay "đại học" không quá quan trọng nhưng trong bối cảnh Việt Nam, danh xưng này lại mang ý nghĩa rất lớn, dẫn đến việc nhiều trường đua nhau chuyển đổi. 

"Có những trường đã trở thành đại học, trong khi Trường đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh là trường trọng điểm quốc gia nhưng vẫn là trường đại học, điều này tạo cảm giác không ổn" - ông nói, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Chính phủ trong việc đánh giá chất lượng và tập trung đầu tư cho các trường trọng điểm.

Nâng chất lượng giáo dục đại học

TS Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường đại học Văn Lang, cho rằng việc siết chặt điều kiện chuyển đổi là cần thiết để tránh tình trạng chuyển đổi mang tính hình thức.

Theo ông, dự thảo thể hiện rõ mong muốn nâng cao chuẩn giáo dục đại học Việt Nam theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, tăng cường nghiên cứu khoa học, hội nhập quốc tế và đóng góp thực chất cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, điều các cơ sở giáo dục đại học quan tâm là cách xây dựng tiêu chí và lộ trình thực hiện. Một số tiêu chí, theo ông Tuấn, là rất cao và khó khả thi nếu áp dụng đồng loạt. 

Chẳng hạn yêu cầu tối thiểu 25 ngành đào tạo tiến sĩ hay mỗi trường thành viên phải có ít nhất năm ngành đào tạo đủ các trình độ có thể dẫn đến tình trạng mở ngành chạy theo số lượng, tiềm ẩn rủi ro về chất lượng.

Tương tự, tỉ lệ 60% giảng viên trình độ tiến sĩ là mục tiêu đúng về dài hạn nhưng nếu áp dụng cứng ngay sẽ gây khó cho các trường định hướng ứng dụng. "Nên có lộ trình 3-5 năm để bảo đảm tính khả thi và bền vững", ông đề xuất.

đại học - Ảnh 3.

Trường đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh thời gian qua đã đầu tư rất nhiều về đội ngũ, nghiên cứu, đào tạo đa lĩnh vực - Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN

Về tiêu chí thu từ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt 20% tổng thu, TS Tuấn cho rằng đây là định hướng tích cực nhưng rất thách thức, nhất là với các trường vẫn phụ thuộc lớn vào học phí. Các tiêu chí về giảng viên quốc tế, sinh viên quốc tế cũng cần được đặt trong một hệ sinh thái tổng thể thay vì chỉ là các con số định lượng.

PGS.TS Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh - nhìn nhận các điều kiện mới khó khăn hơn rất nhiều so với trước đây. Theo ông, việc nâng số trường trực thuộc từ 3 lên 5, tăng quy mô đào tạo lên 25.000 sinh viên, tăng mạnh số ngành đào tạo tiến sĩ và yêu cầu cao về quốc tế hóa sẽ khiến nhiều cơ sở giáo dục đại học gặp khó khăn lớn.

"Lý do của các yêu cầu này là nhằm nâng chất lượng giáo dục đại học, tránh tình trạng "đại học ảo" hoặc quy mô nhỏ. Tuy nhiên hệ quả là sự bất bình đẳng giữa các trường lớn và trường nhỏ có thể gia tăng", ông Dũng phân tích. Theo ông, cơ hội không phải là hết hẳn nhưng rất hẹp và đòi hỏi nỗ lực, chi phí và thời gian lớn.

TS Nguyễn Quốc Anh, Phó hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, cho rằng dự thảo thể hiện rõ định hướng chuẩn hóa và nâng cao chất lượng, bảo đảm danh xưng "đại học" gắn với năng lực thực chất. 

Tuy nhiên ông cũng thừa nhận các yêu cầu được đặt ra là thách thức rất lớn đối với cả khối công lập và ngoài công lập, khi phải đồng thời đáp ứng các điều kiện về quy mô, đội ngũ và nguồn lực tài chính.

"Dù ủng hộ tinh thần của dự thảo, tôi cho rằng để đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này sẽ đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ các cơ sở giáo dục đại học", ông nói.

Cần lộ trình pháp lý rõ ràng

Một câu hỏi khác được đặt ra là số phận của các đại học vùng, vốn không có nhiều điều kiện thuận lợi như các cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh hay Hà Nội. Với các tiêu chí về quy mô, quốc tế hóa và nghiên cứu như trong dự thảo, khả năng đáp ứng của nhiều đại học vùng trong năm năm tới là rất hạn chế. Khi đó nếu không còn đủ điều kiện là "đại học", các cơ sở này sẽ được tổ chức lại ra sao? Các trường đại học thành viên sẽ có vị thế pháp lý như thế nào?

Theo các chuyên gia, đây là vấn đề cần có lộ trình pháp lý rõ ràng, giúp các cơ sở giáo dục đại học chủ động định hướng chiến lược phát triển, tránh rơi vào trạng thái bị động hoặc xáo trộn lớn về tổ chức.

Ngay cả với các đại học quốc gia, việc đạt được đầy đủ các điều kiện cũng không đơn giản, đặc biệt là tiêu chí về tỉ lệ sinh viên quốc tế, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút người học quốc tế ngày càng gay gắt trong khu vực.

Phân hóa rõ nét giữa đại học, trường đại học

"Quy định mới sẽ tạo ra sự phân hóa rõ nét giữa "đại học" và "trường đại học". Ưu điểm là những đại học thật sự mạnh sẽ đạt được và Nhà nước có thể tập trung đầu tư để hình thành các đại học tinh hoa, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tuy nhiên tác động mạnh là với các đại học đang tồn tại nhưng không có khả năng duy trì các điều kiện, khả năng trở về mô hình "trường đại học" là hoàn toàn có thể. Tình trạng nâng cấp lên đại học như thời gian qua chắc chắn sẽ giảm", một chuyên gia Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh nhận định.

Theo Tuổi Trẻ