
Các nhà lãnh đạo G7 tại Hội nghị thượng đỉnh nhóm ở Kananaskis, Canada, năm 2025. Ảnh: New York Times
Trong nhiều thập kỷ, gánh nặng nợ nần đã gieo rắc khốn khó cho các quốc gia nghèo và thu nhập thấp. Nhưng mối đe dọa mới về tình trạng vay mượn vượt tầm kiểm soát đang treo lơ lửng trên nền kinh tế toàn cầu lại xuất phát từ chính những quốc gia giàu có nhất.
Mức nợ công kỷ lục hoặc tiệm cận kỷ lục tại Mỹ, Anh, Pháp, Italy và Nhật Bản đang đe dọa kìm hãm tăng trưởng và gieo mầm bất ổn tài chính trên phạm vi toàn cầu.
Ở trong nước, điều này đồng nghĩa các chính phủ phải dùng tiền để trả lãi nợ – khoản tiền lẽ ra có thể dành cho y tế, hạ tầng giao thông, nhà ở xã hội, phát triển công nghệ hay giáo dục.
Cơn “khát” vay vốn cũng đẩy chi phí đi vay lên cao, nuốt chửng ngày càng nhiều tiền thuế của người dân. Điều này còn kéo theo lãi suất các khoản vay kinh doanh, vay tiêu dùng, mua ô tô, thế chấp nhà ở và thẻ tín dụng tăng lên, đồng thời làm gia tăng áp lực lạm phát.
Đáng lo ngại hơn cả, núi nợ treo lơ lửng - vốn đã phình to ngay cả khi nền kinh tế còn tương đối ổn định và tỷ lệ thất nghiệp thấp như ở Mỹ - khiến các chính phủ có rất ít dư địa để ứng phó khi khủng hoảng xảy ra.
“Bạn cần có khả năng chi tiêu lớn và chi tiêu nhanh khi cần thiết”, ông Kenneth Rogoff, giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard, nhận định.
Điều gì sẽ xảy ra nếu bùng phát một cuộc khủng hoảng tài chính, một đại dịch hay một cuộc chiến tranh? Hoặc nếu xã hội đột ngột cần thêm chi tiêu phúc lợi và trợ cấp thất nghiệp do những thay đổi từ trí tuệ nhân tạo hay các thảm họa liên quan đến khí hậu?
Nợ công của Mỹ hiện đã lên tới 38.000 tỷ USD, tương đương khoảng 125% quy mô nền kinh tế. Khi nợ đã ở mức quá cao, việc vay thêm tiền trở nên khó khăn và tốn kém hơn nhiều.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos tuần trước, Tổng thống Donald Trump thu hút sự chú ý ở trung tâm sân khấu, nhưng phía sau hậu trường, các bộ trưởng tài chính lại lo lắng về khả năng tài trợ cho hàng loạt nhu cầu cấp thiết - từ tăng cường quân sự cho đến nâng cấp lưới điện.
Vay mượn trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng tốt và lãi suất thấp có thể hỗ trợ phát triển, còn trong khủng hoảng có thể giúp kích thích chi tiêu. Chu kỳ vay nợ ồ ạt bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khi các chính phủ phải cứu trợ người dân trong lúc nguồn thu thuế sụt giảm. Các gói cứu trợ thời đại dịch Covid-19 tiếp tục đẩy nợ lên cao hơn, đúng vào lúc lãi suất tăng nhanh và vượt tốc độ tăng trưởng.
Tuy nhiên, nợ không hề giảm xuống sau đó. Hiện nay, tại 6 trong số 7 nền kinh tế giàu nhất thế giới (G7), nợ công đã bằng hoặc vượt tổng sản lượng kinh tế hằng năm, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Nhiều quốc gia còn chịu sức ép từ già hóa dân số và tăng trưởng chậm. Ở châu Âu, Anh và Nhật Bản, chi phí y tế và lương hưu tăng mạnh trong khi lực lượng lao động - nguồn tạo ra thuế - ngày càng thu hẹp.

Nợ công ở mức cao kỷ lục tại Mỹ, Anh, Pháp, Italy và Nhật Bản có nguy cơ làm chậm tăng trưởng và làm mất ổn định nền kinh tế toàn cầu. Ảnh: New York Times
Nhu cầu tái thiết hạ tầng và đầu tư vào công nghệ cao cũng vô cùng cấp bách. Một nghiên cứu kéo dài một năm theo yêu cầu của Ủy ban châu Âu kết luận rằng EU cần chi thêm khoảng 900 tỷ USD cho trí tuệ nhân tạo, lưới điện chung, siêu máy tính và đào tạo nhân lực trình độ cao để duy trì sức cạnh tranh.
Tại Anh, việc nâng cấp hạ tầng trong 10 năm tới sẽ tiêu tốn ít nhất 300 tỷ bảng (410 tỷ USD), theo Diễn đàn Quản trị Tương lai. Hàng chục tỷ USD khác cần thiết để cứu vãn hệ thống y tế quốc gia (NHS).
Ở Italy - nơi nợ công tương đương 138% GDP - các nỗ lực cắt giảm chi tiêu y tế, giáo dục và dịch vụ công đã châm ngòi cho những cuộc biểu tình dữ dội. Tại Pháp, việc nâng tuổi nghỉ hưu cũng gây phản ứng tương tự. Quốc gia này còn bị hạ xếp hạng tín nhiệm nợ công vào mùa thu năm ngoái, làm dấy lên lo ngại về ổn định tài chính.
Trong khi đó, thế giới ngày càng bất ổn. Căng thẳng Mỹ – Trung leo thang. Châu Âu đối mặt với một nước Nga ngày càng quyết liệt và một Tổng thống Mỹ mang tính đối đầu. Nhiều quốc gia đã tăng mạnh chi tiêu quốc phòng và viện trợ Ukraine. NATO thống nhất mục tiêu chi 5% GDP cho quốc phòng; Nhật Bản cũng đang mở rộng đáng kể ngân sách quân sự.
Nợ của Nhật Bản vốn đã ở mức đáng kinh ngạc, hơn gấp đôi quy mô nền kinh tế. Tình hình càng xấu thêm khi Thủ tướng Sanae Takaichi bất ngờ kêu gọi tổng tuyển cử sớm, trong bối cảnh cả đảng cầm quyền và đối lập đều hứa hẹn tăng chi, giảm thuế.
Trong nhiều thập kỷ, Tokyo có thể vay mượn với lãi suất cực thấp. Nhưng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã bắt đầu đảo chiều chính sách này từ năm 2024, dù tiến hành rất thận trọng vì lo ngại bất ổn tài chính.
Những biến động tại Nhật đã lan sang các thị trường khác. Nhật Bản là một trong những chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ. Nếu lợi suất trái phiếu trong nước hấp dẫn hơn, các nhà đầu tư Nhật có thể giảm mua trái phiếu Mỹ.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã lên mức cao nhất kể từ tháng 8. Một số nhà đầu tư coi đây là lời cảnh báo rõ ràng đối với các quốc gia nợ nần cao, kể cả Mỹ.
Dù trái phiếu Mỹ vẫn là “nơi trú ẩn an toàn”, nhiều chuyên gia cho rằng chính sách kinh tế khó đoán và các cuộc chiến thương mại khiến mức nợ hiện nay trở nên nguy hiểm hơn các giai đoạn trước.
Nợ công Mỹ hiện ở mức 38.000 tỷ USD. Lãi trả nợ đã tăng gấp ba lần trong 5 năm, lên khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm, chiếm 15% tổng chi ngân sách – chỉ đứng sau an sinh xã hội.
Theo các nhà kinh tế, gánh nặng này không chỉ làm suy yếu vai trò lãnh đạo kinh tế của Mỹ mà còn đẩy chi phí sang các thế hệ tương lai.
Theo TTXVN