Chiều về Miệt Thứ

17/04/2026 - 05:00

 - Chiều cuối tuần, rời phố thị ồn ào, tôi về Miệt Thứ - vùng đất bình dị, nơi có những con kênh thẳng tắp, xóm ấp yên ả. Không gian hiền hòa và nhịp sống chậm mang lại cảm giác bình yên, gần gũi.

Máy suốt lúa - một hình ảnh vẫn còn hiện hữu ở vùng Miệt Thứ. Ảnh: PHẠM HIẾU

Đứng bên bờ kênh Xẻo Rô đoạn qua xã An Minh tận hưởng cái mát lành của những cơn gió thổi từ cánh đồng tôm - lúa pha lẫn chút vị phù sa. Xa xa, những con đường quê nhỏ chạy dài như dải lụa mềm vắt qua ruộng đồng, vài chiếc xe máy lướt qua để lại tiếng máy nổ trầm đều giữa không gian yên ả. Bếp chiều nhà ai cũng bắt đầu đỏ lửa, đưa làn khói mỏng bay lên không trung mang theo bao niềm nhớ của vùng quê yên bình chiều Miệt Thứ.

Chúng tôi gặp ông Lâm Hoàng Phúc (Bảy Phúc), ngụ xã An Minh khi ông thong dong vá lại cái lú đặt tôm sau buổi thăm vuông. Làn da rám nắng, giọng nói trầm ấm, ông nói: “Ở đây là vậy đó, rất yên bình, chỉ nghe tiếng nước, tiếng gió mà lòng nhẹ tênh…”.

Đúng thật, chiều ở Miệt Thứ buông xuống chậm rãi như nhịp thở dài của đất trời phương Nam. Mặt trời đỏ lựng treo lơ lửng cuối chân trời, ánh nắng loang ra thành những dải vàng cam phủ lên mặt nước phẳng lặng một lớp ánh kim lấp lánh. Những con kênh thẳng tắp như tấm gương dài, phản chiếu bầu trời đang dần chuyển màu, từ xanh nhạt, vàng nhẹ sang đỏ rực, rồi cam, rồi tím sẫm, cuối cùng nhường lại không gian cho màn đêm tĩnh lặng.

Trên cánh đồng xa, bóng người trở về in dài trên nền đất ẩm. Họ đi chậm, trên vai còn vương lại mùi của ruộng đồng, tay mang theo chút thành quả của một ngày lao động hăng say. Mọi thứ dường như chậm lại, dịu dàng hơn, như thể ai cũng muốn níu giữ khoảnh khắc bình yên hiếm hoi trước khi màn đêm buông xuống.

Ông Bảy Phúc kể tiếp, ngày trước, vùng này buồn lắm. Đất phèn, nước mặn, làm lúa thất triền miên, nuôi tôm thì chưa ai rành kỹ thuật. Quanh năm, người dân lẩn quẩn với cái nghèo. Nhiều người bỏ xứ đi làm ăn xa…

Ông Bảy Phúc cất giọng, một điệu hò cũ như vọng về từ những ngày xa lắc: “Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng/ Về sông ăn cá, về đồng ăn cua… Miệt Thứ quê mình tuy nghèo mà nghĩa/ Ai đi xa rồi cũng nhớ quay về…”. Câu hò mùi mẫn của dân tài tử chính hiệu tan vào không gian bảng lảng, chạm vào lòng người nghe một nỗi niềm khó gọi tên...

Có lẽ gặp đúng bạn tri âm, ông Bảy Phúc cười khà khà rồi nói: “Nhưng Miệt Thứ bây giờ khác rồi nghen. Giờ đường bê tông thay cho lối đất lầy lội năm xưa. Điện sáng về tận xóm, trẻ con được học hành đàng hoàng”.

Rồi ông chỉ tay về phía cánh đồng trước mặt, nơi những vuông tôm - lúa xen kẽ như bàn cờ khổng lồ. “Dân vùng này giờ làm tôm - lúa. Mùa mưa trồng lúa, mùa nắng nuôi tôm. Đất được nghỉ, tôm sạch, lúa cũng sạch. Bà con cũng đỡ cực nhờ ứng dụng khoa học, kỹ thuật, cơ giới hóa vào sản xuất nên có của ăn của để…”, ông Bảy Phúc tự hào.

Chúng tôi theo chân ông Bảy Phúc ra vuông tôm. Mặt nước phẳng lặng, thỉnh thoảng gợn sóng lăn tăn khi có cơn gió nhẹ lướt qua. Xa xa, vài người dân đang bón phân tạo hệ tảo, rồi quăng ốc cho tôm, cua ăn. Họ áp dụng theo mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến. Tiếng nói cười rộn ràng của nông dân ngoài vuông, khiến nơi này không còn buồn hiu như thuở trước.

Chiều xuống sâu hơn, bầu trời chuyển dần sang tím sẫm, những cánh cò trắng cũng trở về nhà tìm chỗ ngủ. Khói bếp lại bay lên, nhưng không còn nặng nỗi lo toan vô hình. Ông Bảy lại cất tiếng hò, lần này giọng có vẻ vui hơn: “Chiều chiều con nước lớn ròng/ Miệt Thứ quê mình tôm, lúa đầy đồng/ Ai về nhớ ghé thăm nhà/ Nghe câu vọng cổ đậm đà tình quê…”.

Nghe câu hò tự chế của lão nông tài tử giữa ruộng đồng, tôi chợt nhận ra, cái “chiều Miệt Thứ” không chỉ là khoảnh khắc giao hòa của đất trời mà còn là lát cắt của thời gian, nơi quá khứ lam lũ và hiện tại no đầy gặp nhau trong không gian rất đỗi dịu dàng, bình dị, gần gũi, ấm áp như chính tấm lòng của những con người nơi đây.

Miệt Thứ giờ vẫn vậy, vẫn gió, vẫn nước, vẫn những con người chân chất, thiệt thà, chỉ khác là nỗi buồn đã vơi đi, nhường chỗ cho niềm tin và hy vọng. Trong ánh chiều dần tắt, căn nhà của ông Bảy Phúc cũng lên đèn, tiếng nói cười quây quần bên mâm cơm ấm áp. Bữa cơm quê giản dị đón người khách lạ nhưng đầy ắp nghĩa tình.

Từ giã ông Bảy Phúc, chúng tôi trở về phố thị. Trên đường về, những làn gió nhẹ thổi qua, tiếng lá kêu xào xạc như tiếng thì thầm của đất trời. Tôi chợt nhớ câu hát: “Sương đêm ướt đẫm giàn bầu/ Em về Miệt Thứ bỏ sầu cho ai” giờ đây không còn là nỗi buồn day dứt mà như một ký ức đẹp.

PHẠM HIẾU