NGHỊ QUYẾT 57: ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI - Bài 1: Từ thửa ruộng đến màn hình số

30/06/2026 - 10:00

 - Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 được kỳ vọng sẽ mở ra không gian phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tại đồng bằng sông Cửu Long nói chung, tỉnh An Giang nói riêng, vùng đất giàu tiềm năng nhưng đang đối mặt nhiều thách thức về biến đổi khí hậu, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh, việc hiện thực hóa nghị quyết không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là chìa khóa cho sự phát triển bền vững. Loạt bài ghi nhận những chuyển động đầu tiên, những mô hình đột phá cùng kỳ vọng tạo nên cú hích cho vùng đất chín rồng trong giai đoạn phát triển mới.

Trên cánh đồng lúa ở xã Định Mỹ, chiếc drone từ từ cất cánh, quét đều từng thửa ruộng. Nông dân không còn lội ruộng để “bắt bệnh” cho lúa như trước, chỉ cần mở điện thoại là có thể theo dõi cảnh báo sâu bệnh, lượng nước, dự báo thời tiết và lịch phun thuốc. Một hành trình chuyển đổi đang diễn ra, từ sản xuất bằng kinh nghiệm sang sản xuất bằng dữ liệu.

Từ nghị quyết đến cánh đồng

An Giang, mô hình ứng dụng công nghệ cao “Mặt ruộng không dấu chân” là cuộc cách mạng hóa quy trình canh tác lúa. Trên các cánh đồng vùng nguyên liệu liên kết của Tập đoàn Lộc Trời, không còn hình ảnh nông dân vác máy móc lỉnh kỉnh ra đồng, mà điều khiển máy bay không người lái để bón phân, phun thuốc… Mô hình “Mặt ruộng không dấu chân” thực hiện sản xuất lúa gắn với ứng dụng đồng bộ cơ giới hóa từ đầu vụ đến cuối vụ, giúp tiết kiệm lượng giống sử dụng, giảm lượng phân bón và thuốc hóa học, giảm công lao động, giảm chi phí sản xuất so với truyền thống từ 20 - 30%, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Mô hình ứng dụng công nghệ cao “Mặt ruộng không dấu chân” trên cánh đồng lúa ở xã Định Mỹ. Ảnh: HẠNH CHÂU

Là doanh nghiệp tiên phong đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW vào hệ sinh thái nông nghiệp số, Tập đoàn Lộc Trời đã xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp khép kín từ khâu chọn giống, cung ứng dịch vụ kỹ thuật, chuyển giao quy trình canh tác đến thu hoạch, chế biến và hậu cần. “Chúng tôi triển khai hệ thống Farm Management là nền tảng quản trị số hóa ruộng lúa, cho phép giám sát từng mảnh ruộng theo thời gian thực, nâng cao năng suất và đảm bảo truy xuất nguồn gốc minh bạch. Hệ thống này giúp chuẩn hóa quy trình sản xuất, từ đó dễ dàng đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu”, ông Huỳnh Văn Thòn - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Lộc Trời nói.

Tại cánh đồng lúa ở xã Thoại Sơn, mô hình “Mặt ruộng không dấu chân” thực sự đã giải phóng sức lao động của nông dân. Nhiều công đoạn trong trồng lúa được đảm nhận, vận hành bởi tổ máy bay không người lái, thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp Bình Thành chỉ cần theo dõi mùa vụ, không phải xắn tay vào làm mà vẫn được cam kết lợi nhuận 30 - 40 triệu đồng/ha/năm. Nông dân cho biết, thay vì phải lội bùn, vất vả gieo sạ, bón phân hay phun thuốc thủ công, giờ đây tất cả đều có máy móc làm thay, sử dụng máy bay không người lái để thực hiện gần như toàn bộ các công đoạn canh tác như sạ giống, bón phân, phun thuốc…

Trên cánh đồng bạt ngàn trồng đậu nành rau xuất khẩu xanh mướt ở xã Châu Phú - vùng nguyên liệu của Công ty Cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Antesco), nông dân trồng rau sử dụng thành thạo điện thoại thông minh để thực hiện các nghiệp vụ quản lý đồng ruộng, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào canh tác. Đó là mô hình “Ứng dụng số hóa vào sản xuất” của Công ty Antesco liên kết với nông dân ứng dụng công nghệ vào quy trình sản xuất kết nối sản xuất - tiêu thụ. “Với sản lượng hơn 100.000 tấn nguyên liệu/năm, số hóa là điều tiên quyết để Antesco quản lý tổng thể sản xuất trên quy mô lớn. Antesco ứng dụng chuyển đổi số vào sản xuất, sử dụng phần mềm ERP trong việc tích hợp các app, công nghệ kỹ thuật cao nhằm quản lý chi tiết và chính xác các hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm”, Tổng Giám đốc Công ty Antesco Nguyễn Hoàng Minh chia sẻ.

Bước ra khỏi vùng an toàn của tập quán canh tác cũ, nông dân các xã Thoại Sơn, Long Điền, Long Kiến… đang trồng lúa chất lượng cao, giảm phát thải, một cuộc chuyển mình đầy quyết liệt trong tư duy sản xuất của nông dân miền Tây. Ở An Giang, mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang mở rộng gần 160.000ha, sản lượng thu hoạch hơn 1,2 triệu tấn lúa thương phẩm đạt chuẩn. Việc áp dụng đồng bộ các quy trình canh tác tiên tiến đã mang lại hiệu quả rõ nét. Theo kết quả đánh giá từ 89 mô hình trình diễn trên các cánh đồng tham gia Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao trên địa bàn tỉnh, lượng phát thải giảm từ 7,5 - 8,1 tấn CO2 tương đương/ha, lợi nhuận tăng bình quân hơn 9,3 triệu đồng/ha, tạo thêm giá trị kinh tế cho người trồng lúa.

Điều thay đổi đầu tiên không phải là máy móc mà là tư duy sản xuất. Ông Nguyễn Văn Huỳnh - Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Thanh niên Phú Hòa, xã Tân Hội cho biết, hợp tác xã hiện sản xuất 1.800ha lúa trong Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao. Qua 5 vụ, góp phần thay đổi quy trình sản xuất của nông dân theo hướng giảm phát thải, tăng giá trị, bảo vệ môi trường. Tổng chi phí đầu vào giảm 40%, năng suất lúa tăng; lợi nhuận trung bình tăng 5 triệu đồng/ha/vụ; giảm lượng phát thải 3 - 4 tấn CO2/ha/vụ so với canh tác truyền thống.

Những chuyển động từ cơ sở

Từ đồng ruộng đến việc vận hành bộ máy chính quyền, An Giang đã cụ thể hóa sinh động Nghị quyết số 57-NQ/TW, chuyển từ cách làm truyền thống sang ứng dụng công nghệ số, chính quyền số. Là tỉnh biên giới, An Giang phát triển đồng bộ 3 trụ cột gồm chính quyền số, kinh tế số và xã hội số giúp nâng cao hiệu quả quản trị khu vực biên giới, thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn như nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thương mại biên mậu và du lịch thông minh…, tạo điều kiện cho người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ hành chính hiện đại.

Tại các cửa khẩu An Giang, chuyển đổi số đã nâng cao hiệu quả hoạt động của khu kinh tế cửa khẩu cùng hệ thống các khu, cụm công nghiệp của tỉnh. Theo Sở Công thương, thông qua ứng dụng công nghệ số trong quản lý chuỗi cung ứng nông sản, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, số hóa quy trình thông quan tại cửa khẩu và tăng cường kết nối dữ liệu giữa người sản xuất với doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, An Giang có điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực chế biến nông sản và công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp hiện đại.

An Giang còn khai thác lợi thế, hiện đại hóa nghề nuôi biển thông qua ứng dụng công nghệ, chuyển đổi phương thức nuôi theo hướng chuyên nghiệp, bền vững. Mô hình nuôi cá lồng bè công nghệ mới mang lại lợi nhuận trên 42%, mô hình nuôi tôm sú, sò huyết dưới tán rừng đạt tỷ suất lợi nhuận 113,8%, sản xuất giống cá ngựa đen đạt 61% hay nuôi cá chim vây vàng trong lồng HDPE đạt 42,7%. Bà Huỳnh Tuyết Hạnh, ngụ khu phố 3 An Thới, đặc khu Phú Quốc chia sẻ, với 15 lồng bè nuôi cá bớp và cá mú, mỗi năm gia đình có lợi nhuận 500 - 600 triệu đồng sau khi trừ chi phí, góp phần phát triển kinh tế xanh vùng biển, đảo.

An Giang là 1 trong 10 địa phương được Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số biểu dương vì đã nêu cụ thể quan điểm chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với tinh thần chung của Trung ương. Sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, phương thức chỉ đạo, điều hành của tỉnh chuyển biến mạnh mẽ sang tư duy dựa trên dữ liệu, mục tiêu và kết quả đầu ra. Tỷ lệ nhiệm vụ hoàn thành quá hạn giảm hơn 33% so với năm 2025. Chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp trên môi trường điện tử của tỉnh đạt 95,96 điểm, xếp loại xuất sắc.

Đến giữa tháng 4/2026, tỉnh đã hoàn thành 130/244 nhiệm vụ (53,28%) theo kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; hạ tầng internet phủ 100% cấp xã; hồ sơ số hóa đạt trên 80%, nhiều lĩnh vực như hộ tịch, giáo dục đạt 100%; chỉ số giải quyết thủ tục hành chính đạt 95,55 điểm; 349 nhiệm vụ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. An Giang đã ghi dấu ấn mạnh mẽ trên bản đồ kinh tế vĩ mô. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt 8,39% và quý I/2026 đạt 7,8%, dẫn đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Điểm nổi bật, tỉnh vận hành hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số” trên SmartAnGiang, nâng tỷ lệ người dân tiếp cận kỹ năng số cơ bản đạt 50,4%. Ngành y tế đã triển khai phần mềm quản lý bệnh viện (HIS) tại 100% cơ sở có giường bệnh và ứng dụng thành công trí tuệ nhân tạo (AI) trong hỗ trợ chẩn đoán.

Những kết quả thực tiễn trên khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ gia tăng hàm lượng tri thức, tối ưu hóa chi phí sản xuất và chuỗi cung ứng. Nhờ cách làm bài bản, sát thực tiễn, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại địa phương đạt nhiều kết quả tích cực, trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới. Một nghị quyết không thể tạo ra sự thay đổi nếu chỉ nằm trên giấy, nhưng khi khoa học, công nghệ bước xuống cánh đồng, khi dữ liệu trở thành nguồn lực mới, khi AI đồng hành cùng nông dân, doanh nghiệp và chính quyền, một mô hình tăng trưởng mới đang dần hình thành.

(Còn tiếp)

HẠNH CHÂU