Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, những tháng đầu năm 2026, thị trường tài chính-tiền tệ toàn cầu tiếp tục chịu tác động mạnh từ các yếu tố địa chính trị và lạm phát. Xung đột quân sự leo thang tại Trung Đông khiến giá dầu Brent duy trì xu hướng tăng, kéo theo nguy cơ lạm phát quay trở lại tại nhiều nền kinh tế lớn.
Trước diễn biến này, nhiều ngân hàng trung ương lớn như FED, ECB hay BOE tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng và giữ nguyên lãi suất trong các phiên họp đầu năm. Một số quốc gia như Australia hay Philippines thậm chí đã tăng lãi suất trong bốn tháng đầu năm 2026.
Trong bối cảnh đó, đồng USD tăng mạnh trở lại, tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và thị trường tiền tệ trong nước. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, rủi ro lạm phát chi phí đẩy từ bên ngoài đang tạo ra nhiều sức ép đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ.
Ở trong nước, mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tiếp tục được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước kiên định theo đuổi thông qua việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản đang gia tăng khi tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tốc độ huy động vốn. Dư nợ tín dụng hiện đã vượt 19 triệu tỷ đồng, trong khi huy động vốn chỉ ở mức gần 18 triệu tỷ đồng.
Thực tế này khiến nhiều ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất huy động để hút dòng tiền. Có thời điểm, lãi suất thực tế đối với các khoản tiền gửi lớn hoặc kỳ hạn dài được đẩy lên tới 8-9%/năm.
Theo các chuyên gia, nếu lãi suất huy động tăng tự do, chi phí vốn đầu vào sẽ gia tăng và kéo mặt bằng lãi suất cho vay đi lên, gây thêm khó khăn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Trước áp lực đó, Vụ trưởng Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) Phạm Chí Quang cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ thanh khoản và tạo điều kiện để giảm lãi suất cho vay.
Trên thực tế, từ năm 2023 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Khi lãi suất thị trường có dấu hiệu “nóng” trở lại trong đầu năm 2026, cơ quan điều hành liên tục triển khai các biện pháp hỗ trợ thanh khoản và nhiều công cụ điều hành khác.
Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước bơm ra lượng tiền lớn qua thị trường mở, kéo dài kỳ hạn vay tới hai tháng thay vì chỉ 1-2 tuần như trước đây. Đồng thời, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ cũng được triển khai nhằm bổ sung nguồn hỗ trợ thanh khoản bằng đồng Việt Nam cho các tổ chức tín dụng. Nhờ đó, thanh khoản hệ thống tiếp tục được bảo đảm an toàn, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hạ nhiệt và lan tỏa xuống thị trường dân cư.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước liên tục ban hành các văn bản chấn chỉnh hoạt động huy động vốn và yêu cầu các tổ chức tín dụng ổn định mặt bằng lãi suất.
Mới đây, Công văn số 3972/Ngân hàng Nhà nước-CSTT ngày 14/5 yêu cầu các Ngân hàng Nhà nước khu vực tổ chức kiểm tra việc thực hiện chủ trương giảm mặt bằng lãi suất tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn. Tiếp đó, Công văn số 4190/Ngân hàng Nhà nước-CSTT ngày 21/5 yêu cầu tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Hiện các Ngân hàng Nhà nước khu vực đang rà soát những ngân hàng có mặt bằng lãi suất huy động và cho vay cao hơn mặt bằng chung để tổ chức kiểm tra chuyên đề. Thanh tra Ngân hàng Nhà nước khu vực cũng được yêu cầu đưa nội dung kiểm tra lãi suất vào kế hoạch thanh tra năm 2026 nhằm tăng cường giám sát việc thực hiện chủ trương giảm lãi suất trên toàn hệ thống.
Bên cạnh các biện pháp hành chính, Ngân hàng Nhà nước chủ động thực hiện các giải pháp kỹ thuật nhằm hỗ trợ thanh khoản và tạo thêm dư địa vốn cho hệ thống ngân hàng. Đáng chú ý, dòng tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, tạo thêm nguồn lực đáng kể cho hệ thống.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 1/2026, tiền gửi dân cư tại các tổ chức tín dụng vượt 10,38 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 46 nghìn tỷ đồng so với cuối năm trước và là mức cao nhất từ trước đến nay. Nhưng bên cạnh đó, tiền gửi của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế lại ghi nhận xu hướng giảm, còn hơn 8 triệu tỷ đồng.
Theo các chuyên gia kinh tế, việc lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng nhích tăng trở lại, nhất là ở các kỳ hạn trung và dài hạn, đã góp phần thúc đẩy dòng tiền quay trở lại hệ thống ngân hàng. Đồng thời, xu hướng tăng tiền gửi dân cư cũng phản ánh tâm lý ưu tiên an toàn tài chính của người dân trong bối cảnh các kênh đầu tư như bất động sản, chứng khoán hay vàng vẫn tiềm ẩn nhiều biến động. Cùng với đó, việc hệ thống ngân hàng duy trì tính thanh khoản ổn định cùng các chính sách điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước cũng góp phần củng cố niềm tin của người gửi tiền.
Những giải pháp điều hành được triển khai thời gian qua cho thấy Ngân hàng Nhà nước đang theo đuổi mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất bằng nhiều công cụ đồng bộ. Tuy nhiên theo giới chuyên gia, để tạo nền tảng cho một chu kỳ tăng trưởng dài hạn, điều quan trọng không chỉ là giảm lãi suất mà còn phải phát triển đồng bộ các cấu phần của thị trường tài chính.
Ông Nguyễn Văn Thân - đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cho rằng, câu chuyện lãi suất cần được nhìn nhận theo cơ chế thị trường và đặc thù hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Nhà nước hiện đã có nhiều cơ chế hỗ trợ như Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Đổi mới công nghệ hay Quỹ Bảo lãnh tín dụng, song việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ này trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn. Do vậy, ông Thân đề xuất cần có giải pháp đồng bộ hơn nhằm tháo gỡ điều kiện tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì chỉ tập trung vào câu chuyện giảm lãi suất.
Nhiều ý kiến khác cũng cho rằng, để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng phát triển bền vững, cần tiếp tục phát triển thị trường vốn, khơi thông dòng vốn trung và dài hạn thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
“Chính sách tiền tệ không thể một mình gánh toàn bộ áp lực hỗ trợ nền kinh tế mà cần sự phối hợp đồng bộ hơn với chính sách tài khóa và thị trường vốn. Có những giai đoạn phải sử dụng nhiều hơn dư địa của chính sách tiền tệ, nhưng cũng có những giai đoạn cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa và thị trường vốn để chia lửa cho nền kinh tế”, Tiến sĩ Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam nhấn mạnh.



Đọc nhiều