
Ngày của Phở do báo Tuổi Trẻ tổ chức hằng năm cũng là một hoạt động quảng bá hình ảnh và văn hóa Việt Nam hiệu quả - Ảnh: HỮU HẠNH
Thủ tướng vừa ban hành Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tăng chỉ số sức mạnh mềm
Theo đó, từ nay đến năm 2030, Chính phủ đặt mục tiêu truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài một cách chủ động, toàn diện, thống nhất và hiệu quả. Qua đó, nâng cao nhận thức, thiện cảm và sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với đất nước, con người, văn hóa và những thành tựu phát triển của Việt Nam; góp phần khẳng định vị thế, uy tín, bản sắc và năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, thúc đẩy du lịch, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng, bền vững. Và đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thương hiệu, hình ảnh mạnh mẽ hàng đầu châu Á, lọt top 3 ASEAN và top 30 thế giới về chỉ số Sức mạnh mềm quốc gia.
Trao đổi với P.V về những mục tiêu được Chính phủ đề ra trong Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài, nhiều chuyên gia nhận định để có một thương hiệu quốc gia mạnh, hướng tới việc tạo lập sức mạnh mềm quốc gia thì kinh nghiệm từ nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc và một số nước phương Tây cho thấy cần bắt đầu từ việc lan tỏa văn hóa Việt.
Và giải pháp quan trọng đã được đề ra cần được thúc đẩy là phát triển ngành công nghiệp văn hóa để lan tỏa giá trị Việt.
TS Nguyễn Quốc Việt - chuyên gia chính sách công, giảng viên Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) - cho hay mỗi quốc gia đều cố gắng xây dựng một hình ảnh, trước hết là tạo ra một đặc thù về văn hóa, hình ảnh thân thiện, cởi mở và hòa nhập với cộng đồng thế giới.
Hình ảnh, sự thân thiện của mỗi quốc gia cũng là điều kiện để các nhà đầu tư quốc tế quyết định lựa chọn điểm đến đầu tư; khách du lịch lựa chọn nơi du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng.
Khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư vào văn hóa
Trao đổi với P.V, đạo diễn Việt Tú cho rằng chủ trương định hướng và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ với phát triển và quảng bá công nghiệp văn hóa chính là cơ hội không thể tốt hơn cho những người làm văn hóa.
Nhưng để nắm bắt cơ hội này, đạo diễn Việt Tú cho rằng cần khẩn trương có chiến lược đào tạo nhân sự cho ngành trong ngắn, trung và dài hạn, ở cả ba giai đoạn đều cần tạo được cơ chế để thu hút nhân tài người Việt đang làm việc tại các nền công nghiệp văn hóa thế giới về nước cống hiến, và họ sẽ là nhân tố chính giúp "đốt cháy giai đoạn" hiệu quả nhất.
Ngoài ra, cần có những chế tài quyết liệt hơn nữa về bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ trong nghệ thuật (quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ...), trong đó một trong những đối tượng cần tham gia mạnh nhất chính là các nghệ sĩ, các nhà sản xuất đang hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật.
Bên cạnh đó, phải khẩn trương xây dựng cơ chế cho mô hình hợp tác công tư trong công nghiệp văn hóa để khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư vào văn hóa, ở đây cụ thể là mô hình 3 nhà - Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà sáng tạo - mà tôi đã từng nhiều lần đề cập.
"Chỉ khi đầu tư vào văn hóa có được những lợi nhuận như các ngành công nghiệp khác thì văn hóa và dân trí mới có nền tảng để phát triển bền vững tiếp tục được nâng tầm", đạo diễn Việt Tú khẳng định.

Việc tổ chức những concert hoành tráng với sự tham gia của các ca sĩ nổi tiếng và hàng chục ngàn khán giả thời gian qua là biểu hiện manh nha của sự phát triển công nghiệp văn hóa - Ảnh: NAM TRẦN
Lấy công nghiệp văn hóa để xây dựng thương hiệu quốc gia
Bàn về vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa để xây dựng thương hiệu quốc gia, PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, một chuyên gia về văn hóa, nhận định ngành công nghiệp văn hóa đã được thực chứng ở Hàn Quốc, Trung Quốc và một số nước phương Tây, đặc biệt là về phim ảnh.
"Tối hôm qua tôi phải xem lại lần thứ ba phim Hạ cánh nơi anh (của Hàn Quốc), ngoài ra tôi cũng xem lại nhiều lần một số phim cổ trang của Trung Quốc và Hàn Quốc. Đáng chú ý, nhiều chương trình ca nhạc do các ca sĩ Hàn Quốc tổ chức tại Việt Nam trong năm 2025 đã thu hút một lượng đông đảo giới trẻ tham gia. Nhiều bạn trẻ Việt rất hâm mộ, khao khát được xem các ngôi sao K-pop biểu diễn.
Hiện nay, ảnh hưởng từ công nghiệp văn hóa Hàn Quốc, Trung Quốc đến Việt Nam rất sâu sắc và rộng rãi. Cái cuối cùng của sự có mặt về mặt văn hóa trên thế giới là quốc gia ấy có thương hiệu không? Ví dụ nước mình có một số khái niệm xuất hiện trên thế giới theo tôi cũng là khía cạnh cho thấy sự phát triển của công nghiệp văn hóa như AODAI, PHO, BANHMI...
Những khái niệm này cho thấy ở Việt Nam đã xuất hiện những thương hiệu, đồ vật, văn hóa vật chất... góp phần xây dựng thương hiệu của một quốc gia. Nhiều cuộc thi sắc đẹp lớn trên thế giới đã xuất hiện áo dài.
Tuy nhiên, họ chỉ mặc áo dài trong các cuộc thi thôi chứ không thể mặc trong đời sống thường nhật như người Việt, bởi họ không phải là đất nước sản sinh ra áo dài".
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái cũng cho rằng tín hiệu rất mừng là phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành chủ trương của Đảng và Chính phủ, lấy công nghiệp văn hóa góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia.
Những concert (buổi trình diễn âm nhạc) được tổ chức hoành tráng, rồi các show diễn thực cảnh như Tinh hoa Việt Nam trong thời gian gần đây cũng cho thấy những dấu hiệu manh nha về sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa, thu hút rất đông đảo khách du lịch trong nước và nước ngoài tới xem.
"Những gì thật sự thuần Việt trở thành nghệ thuật biểu diễn thì cốt lõi của nó chính là công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, cách làm công nghiệp văn hóa của chúng ta hiện nay vẫn còn mò mẫm, chưa có lý thuyết để phát triển một cách bài bản, hoàn chỉnh. Các nước họ có những ngành đào tạo ở cấp độ đại học, trên đại học về phát triển công nghiệp văn hóa", PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái nói.

|
* TS Nguyễn Quốc Việt:
"Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại"
Ở góc độ kinh tế - đầu tư, những năm qua các bộ ngành vẫn tổ chức các chương trình xúc tiến đầu tư tại nhiều quốc gia để thu hút vốn. Ngoài ra các bộ, ngành, hiệp hội ngành hàng cũng tổ chức các triển lãm, hội thảo trong nước, hội thảo quốc tế để giới thiệu các loại hàng hóa xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong Chiến lược truyền thông, quảng bá hình ảnh quốc gia vừa ban hành, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương là đầu mối phối hợp với Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, các địa phương liên quan thực hiện chương trình quảng bá Việt Nam là nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng, điểm đến tin cậy cho đầu tư và thương mại quốc tế.
Việc kết hợp xúc tiến thương mại (quảng bá hình ảnh sản phẩm Việt Nam) với việc thu hút đầu tư nước ngoài hiện nay "tuy hai mà một" vì có tới hơn 70% giá trị xuất khẩu trong nhiều năm qua do khu vực doanh nghiệp FDI mang lại.
Nhiều sản phẩm hàng hóa chủ lực của Việt Nam hiện nay do các doanh nghiệp FDI làm ra, nên chúng ta càng thu hút được nhiều doanh nghiệp trong hệ sinh thái, chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI đến Việt Nam thì hình ảnh, sản phẩm mang thương hiệu Việt, gắn mác "made in Vietnam" ngày càng lan tỏa.
|

Bức Tường và Phạm Anh Khoa biểu diễn tại Đức trong chuyến biểu diễn nhiều nước châu Âu năm 2025 - Ảnh: NVCC
Bước chuyển từ tuyên truyền sang xây dựng thương hiệu
Đổi mới tư duy truyền thông, từ tuyên truyền một chiều sang xây dựng hình ảnh, thương hiệu và sức mạnh mềm quốc gia, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội - cho rằng đây là một bước chuyển rất quan trọng, có thể như thay đổi "triết lý" trong công tác thông tin đối ngoại.
Trong bối cảnh truyền thông số hiện nay, công chúng quốc tế không còn tiếp nhận thông tin theo cách thụ động. Họ tiếp cận thông tin đa nguồn, so sánh, kiểm chứng và hình thành nhận thức dựa trên trải nghiệm thực tế và cảm xúc. Vì vậy, nếu chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin theo hướng một chiều, rất khó tạo ra niềm tin và thiện cảm bền vững.
Xây dựng hình ảnh và sức mạnh mềm quốc gia đòi hỏi một cách tiếp cận khác: kể những câu chuyện có giá trị, tạo ra trải nghiệm tích cực và quan trọng nhất là xây dựng uy tín.
Sức mạnh mềm không đến từ lời giới thiệu về thành tựu, mà đến từ chất lượng phát triển, từ văn hóa, từ cách một quốc gia ứng xử với người dân, với đối tác và với các vấn đề chung của thế giới. Đây là cách tiếp cận hiện đại, phù hợp với xu thế cạnh tranh hình ảnh quốc gia trong kỷ nguyên số.
| Chiến lược này không chỉ nhằm "giới thiệu Việt Nam", mà sâu xa hơn là định vị Việt Nam trong hệ sinh thái phát triển toàn cầu như một quốc gia ổn định, nhân văn, sáng tạo và có trách nhiệm. |
* Từ sự thành công của Hàn Quốc trong xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua ngành công nghiệp giải trí, phim ảnh, ca nhạc K-pop, Việt Nam có nên đi theo con đường này để xây dựng thương hiệu quốc gia?
- Thành công của Hàn Quốc là một bài học rất đáng tham khảo, nhưng không nên hiểu là Việt Nam cần "đi theo" một mô hình cụ thể. Điều quan trọng nhất không phải là sao chép con đường của nước khác, mà là học cách họ xây dựng chiến lược dài hạn dựa trên chính lợi thế của mình.
Hàn Quốc thành công vì họ coi công nghiệp văn hóa là một ngành kinh tế chiến lược, đầu tư đồng bộ từ thể chế, nguồn lực, đào tạo nhân lực đến cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo. K-pop, điện ảnh hay truyền hình không chỉ là sản phẩm giải trí, mà là công cụ lan tỏa hình ảnh quốc gia rất hiệu quả.
Với Việt Nam, lợi thế nằm ở sự đa dạng văn hóa, hệ thống di sản phong phú, ẩm thực đặc sắc, con người thân thiện và một đời sống sáng tạo đang phát triển mạnh. Con đường phù hợp nhất cho Việt Nam không phải là làm "phiên bản Việt của K-pop", mà là xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa mang bản sắc Việt Nam - từ điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi số đến du lịch văn hóa.
Khi những sản phẩm sáng tạo mang câu chuyện Việt Nam được lan tỏa ra thế giới, thương hiệu quốc gia sẽ được hình thành một cách tự nhiên và bền vững.
* Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thương hiệu và hình ảnh mạnh mẽ hàng đầu châu Á; phấn đấu nằm trong top 3 ASEAN và top 30 thế giới về chỉ số Sức mạnh mềm quốc gia (Soft Power Index). Đây là mục tiêu rất lớn. Theo ông, những việc gì cần làm ngay để đạt được mục tiêu này cũng như các mục tiêu khác của chiến lược?
- Đây là một mục tiêu rất lớn, bởi sức mạnh mềm là kết quả của một quá trình tích lũy lâu dài. Tuy nhiên, theo tôi, có ba việc cần triển khai ngay.
Thứ nhất là xây dựng một hệ định vị hình ảnh quốc gia rõ ràng và thống nhất, làm cơ sở để tất cả các hoạt động truyền thông, xúc tiến, quảng bá của các bộ, ngành, địa phương cùng hướng tới một câu chuyện chung. Nếu không có "trục giá trị" này, các nỗ lực sẽ tiếp tục phân tán và khó tạo dấu ấn.
Thứ hai là đầu tư mạnh cho các lĩnh vực tạo ra sức lan tỏa quốc tế, đặc biệt là công nghiệp văn hóa, du lịch, giáo dục quốc tế, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Hình ảnh quốc gia không được xây dựng bằng truyền thông đơn thuần mà bằng những sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm mà thế giới thực sự tiếp cận.
Thứ ba là phát triển đội ngũ nhân lực truyền thông quốc tế chuyên nghiệp có năng lực ngoại ngữ, công nghệ và tư duy toàn cầu, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu để theo dõi, đánh giá và phản ứng nhanh với các vấn đề truyền thông.
Nếu ba nền tảng này được triển khai đồng bộ, cùng với quyết tâm chính sách và sự tham gia của toàn xã hội, mục tiêu nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia đến năm 2045 hoàn toàn có cơ sở thực hiện.
* Trong chiến lược này, Việt Nam được nhận diện là quốc gia phát triển, nhân văn, sáng tạo, biểu tượng của hòa bình. Ông thấy sao về lựa chọn hình ảnh thương hiệu Việt Nam này?
- Tôi cho rằng đây là một lựa chọn rất đúng và có chiều sâu, bởi một thương hiệu quốc gia chỉ bền vững khi được xây dựng trên những giá trị cốt lõi của lịch sử, văn hóa và con đường phát triển. Việt Nam là dân tộc đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh nhưng luôn hướng tới hòa bình, hòa giải và hợp tác.
Hình ảnh một quốc gia yêu chuộng hòa bình, ổn định và có trách nhiệm không chỉ phản ánh quá khứ, mà còn phù hợp với vai trò ngày càng tích cực của Việt Nam trong các cơ chế khu vực và quốc tế hiện nay.
Yếu tố "nhân văn" gắn với truyền thống văn hóa Việt Nam: đề cao con người, tinh thần cộng đồng, sự sẻ chia và khả năng thích ứng. Trong khi đó, "sáng tạo" và "phát triển" lại thể hiện diện mạo của một Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số với lực lượng lao động trẻ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đang hình thành và khát vọng vươn lên trở thành nước phát triển vào năm 2045.
|
Chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia của các nước châu Á

Khách du lịch chụp ảnh lưu niệm tại đền Wat Arun, BangKok, Thái Lan - Ảnh: REUTERS
Qua cách làm của Nhật Bản, Thái Lan và Ấn Độ, có thể thấy xây dựng thương hiệu quốc gia không giới hạn ở một khuôn mẫu nào.
Điểm chung của các chiến lược thành công nằm ở việc nhận diện đúng nội lực, bối cảnh và biết cách biến hình ảnh quốc gia thành đòn bẩy cho phát triển trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.
* Nhật Bản: Khi nhắc tới Nhật Bản đương đại, công chúng toàn cầu thường liên tưởng đến anime, manga, trò chơi điện tử và các sản phẩm văn hóa đại chúng đặc trưng. Từ thập niên 1990, làn sóng tiếp nhận những sản phẩm này tại châu Á và phương Tây bùng nổ, đưa Nhật Bản trở thành biểu tượng của sáng tạo và phong cách, từng được truyền thông quốc tế mô tả như một "đế chế của sự ngầu".
Quyền lực mềm - khả năng định hình sở thích của người khác thông qua sức hấp dẫn và sự lôi cuốn - trở thành công cụ mà Nhật Bản lựa chọn với sự ra đời của sáng kiến Cool Japan (Nhật Bản ngầu).
Sáng kiến này đã trở thành một chiến lược dài hạn, quảng bá không chỉ các sản phẩm hữu hình như manga, anime, thời trang, ẩm thực hay công nghệ, mà còn nhấn mạnh những giá trị vô hình như tinh thần hiếu khách, sự cần mẫn và sáng tạo.
Chiến lược này tập trung bồi đắp nội lực và sức hấp dẫn quốc gia, từ đó lan tỏa ra bên ngoài và tận dụng sự ngưỡng mộ quốc tế để khẳng định vị thế. Nhờ đó, ẩm thực Nhật Bản phổ biến rộng khắp, anime liên tục phá kỷ lục người xem, còn du lịch tăng trưởng ấn tượng.
* Thái Lan: Quốc gia này lựa chọn du lịch làm trung tâm cho chiến lược thương hiệu quốc gia, kiên trì xây dựng hình ảnh "đất nước của những nụ cười". Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, chiến dịch Amazing Thailand (Thái Lan kỳ diệu) ra đời, tận dụng sự sụt giảm của đồng baht để kích cầu du lịch và thu hút chi tiêu nước ngoài.
Với thông điệp ngắn gọn, giàu cảm xúc, chiến dịch này khắc họa sự hòa quyện giữa thiên nhiên, văn hóa và lòng hiếu khách, trở thành nền tảng quảng bá du lịch Thái Lan suốt nhiều thập niên. Các chiến dịch tiếp nối liên tục làm mới hình ảnh, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với gần 40 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2019.
* Ấn Độ: Nước này lựa chọn xây dựng thương hiệu quốc gia gắn trực tiếp với năng lực sản xuất và cải cách kinh tế, thông qua chương trình "Make in India" (Sản xuất tại Ấn Độ).
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi khi giới thiệu chương trình trong bài phát biểu ngày 15-8-2014 nhân Ngày Độc lập đã tuyên bố: "Tôi muốn nói với người dân trên toàn thế giới: Hãy đến, hãy sản xuất tại Ấn Độ. Hãy đến và chế tạo tại Ấn Độ. Hãy mang đi bán ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nhưng hãy sản xuất tại đây".
"Chúng tôi có kỹ năng, tài năng, kỷ luật và khát vọng hành động. Chúng tôi muốn trao cho thế giới một cơ hội: hãy đến và sản xuất tại Ấn Độ", ông nhấn mạnh.
Thông điệp kêu gọi "đến và sản xuất tại Ấn Độ" phản ánh tham vọng đưa quốc gia Nam Á này trở thành trung tâm sản xuất toàn cầu. Trong hơn một thập niên qua, sáng kiến Make in India đã tạo động lực mạnh mẽ cho sản xuất trong nước, giúp thứ hạng của Ấn Độ trên các bảng xếp hạng quốc tế tăng lên và tạo ra hàng triệu việc làm mới.
|
Theo Tuổi Trẻ