Mặt trời lên cao, những chiếc vỏ lãi bắt đầu chạy qua lại giữa hàng cọc tràm cắm dài tít tắp ở vùng bãi bồi xã Đông Thái. Những mái chòi nhỏ dựng chênh vênh trên mặt biển đã trở thành hình ảnh quen thuộc ở đây. Người dân gọi nơi này là “xóm nổi”, nơi hàng ngàn người lao động bám bàu sò, sống theo con nước để mưu sinh. Gắn bó với nghề nuôi sò huyết gần 15 năm, ông Nguyễn Văn Tâm, ngụ xã Đông Thái cho biết, năm 2010, ông thuê 30ha mặt nước ven biển. Mùa thuận lợi, ông có thể lời từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng. Hiện, sò không còn được giá như trước, thương lái mua khoảng 50.000 đồng/kg. Dù giá bấp bênh, sản lượng phụ thuộc thời tiết nhưng nghề nuôi sò vẫn giúp nhiều hộ ven biển sống được nhờ vốn đầu tư không lớn, chủ yếu tiền con giống và thuê người canh giữ, khai thác.
.JPG)
Hàng cọc tre khoanh vùng nuôi sò trên bãi bồi ven biển. Ảnh: BẢO TRÂN
Những bãi sò ven biển còn tạo kế sinh nhai cho lao động làm thuê. Từ cào sò, giữ bàu, vận chuyển đến phân loại sò thương phẩm… hầu như công đoạn nào cũng cần người làm. Hơn 5 năm nay, vợ chồng chị Trần Ngọc Chuyền, ngụ xã Đông Thái sống bằng nghề canh giữ sò giữa bãi bồi. Ngoài mức lương khoảng 5 triệu đồng/tháng, vào mùa thu hoạch sò huyết hay vẹm xanh, họ còn có thêm tiền công theo ngày. “Công việc không cực nhọc nhưng luôn xoay vòng. Sáng, tôi theo nước ròng xuống bàu kéo lưới, cào sò, gom vẹm xanh, rồi sục bùn tạo thức ăn tự nhiên hay dựng lại hàng cọc bị sóng đánh nghiêng. Tối đến, vợ chồng tôi thay phiên nhau rọi đèn thức canh bàu sò vì sợ mất trộm”, chị Chuyền nói.
Gần đây, nhịp mưu sinh ở “xóm nổi” thu hút nhiều du khách tìm đến trải nghiệm. Những chiếc ghe, vỏ lãi chở khách từ đất liền ra bàu sò ngày càng nhiều. Có người thích thú lội bùn cào sò, quay phim, chụp ảnh; có người chỉ ngồi trên chòi hít thở không khí trong lành, nhìn sóng biển rồi thưởng thức bữa hải sản. Lần đầu theo bạn ra bàu sò ở xã Đông Thái, anh Trần Minh Châu, ngụ xã Giồng Riềng cho biết: “Trước đây thấy cảnh nuôi sò qua mạng xã hội nên tôi khá tò mò. Chúng tôi đặt 1 chòi với chủ bàu, rồi thuê vỏ lãi chạy ra giữa bãi bồi, mang ít đồ ăn để chế biến hải sản tại chỗ. Ban đầu, tôi nghĩ đi cho biết, nhưng ở vài tiếng tôi lại thích không khí ngoài này”, anh Châu nói.
Xã Đông Thái hiện có hơn 3.000 hộ dân nuôi sò với gần 3.200ha bãi bồi, tập trung ở khu vực các ấp 5 Biển A, 6 Biển, Xẻo Vẹt, 7 Biển và Xẻo Quao A. Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đông Thái Nguyễn Thị Bích Thủy, nghề nuôi sò là một trong những ngành kinh tế thủy sản có tiềm năng phát triển bền vững của địa phương nếu được định hướng đúng và quản lý chặt chẽ. Xã đang từng bước rà soát, quy hoạch vùng nuôi theo hướng tập trung, phù hợp điều kiện tự nhiên, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ven biển.
Đông Thái tăng cường quản lý hoạt động nuôi sò theo hướng liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, kiểm soát môi trường nước, hạn chế tình trạng phát triển tự phát gây chồng lấn diện tích hoặc ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven biển. Cùng với quy hoạch vùng nuôi, xã khuyến khích người dân thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo đầu ra ổn định và từng bước xây dựng thương hiệu thủy sản địa phương. Hiện nay, sản phẩm sò huyết bãi bồi Nguyễn Vui tại ấp 6 Biển đã đạt chuẩn OCOP 3 sao, mở ra hướng đi mới trong việc nâng giá trị đặc sản vùng bãi bồi.
Không dừng ở câu chuyện mưu sinh, những bàu sò ven biển còn được cơ quan chuyên môn ở Đông Thái nhìn nhận là tiềm năng để phát triển du lịch trải nghiệm gắn với sinh thái. Xu hướng du khách tìm đến khám phá nghề truyền thống và thưởng thức đặc sản địa phương ngày càng tăng. Do đó, địa phương đang nghiên cứu khả năng kết hợp nuôi trồng thủy sản với phát triển du lịch cộng đồng nhằm tạo thêm sinh kế, đa dạng nguồn thu và quảng bá hình ảnh vùng ven biển.
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy cho biết, để biến tiềm năng thành hướng phát triển bền vững vẫn còn nhiều việc phải làm. Hạ tầng giao thông, điều kiện vệ sinh môi trường, dịch vụ phục vụ du khách và việc giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương đều cần được tính toán đồng bộ, tránh phát triển nóng. Tuy nhiên, khu vực ven biển hiện đang chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu, sạt lở bờ biển, ô nhiễm môi trường và sự suy giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Trong khi đó, phần lớn người dân vẫn sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi giá trị và chưa ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ vào sản xuất. Vì vậy, để kinh tế ven biển phát triển bền vững cần có quy hoạch đồng bộ, đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, tăng cường quản lý môi trường, hỗ trợ liên kết tiêu thụ và phát triển các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu.
Xa hơn, bài toán của vùng ven biển không chỉ là chuyện con sò hay những mùa thu hoạch được giá mà còn là hành trình giữ lấy sinh kế cho người dân, giữ màu xanh của bãi bồi và phát triển nhịp sống của những “xóm nổi” đang tồn tại giữa biển.
BẢO TRÂN