Chế biến sản phẩm tôm phục vụ xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Đồng quan điểm trên, ông Bùi Minh Giáp nhấn mạnh điểm đáng chú ý của kinh tế Việt Nam trong thời gian qua là tăng trưởng không chỉ đến từ một khu vực đơn lẻ mà bao trùm trên rất nhiều ngành: công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, nông nghiệp, tiêu dùng, đầu tư, thương mại.
Trong đó, ông nhận thấy có 2 động lực rất quan trọng với kinh tế Việt Nam là đầu tư và sản xuất. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một điểm sáng, khi vốn đăng ký và giải ngân trong giai đoạn 6 tháng, 7 tháng và 8 tháng đầu năm đều tăng, cho thấy Việt Nam tiếp tục là điểm đến quan trọng của chuỗi sản xuất trong khu vực.
Về sản xuất, chỉ số các nhà quản trị mua hàng (PMI) trong lĩnh vực sản xuất vẫn ở trên ngưỡng 50 điểm trong suốt 14 tháng qua, cho thấy khu vực sản xuất đang tiếp tục mở rộng, từ đó hỗ trợ cho các lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Trước những tín hiệu vượt kỳ vọng, trong báo cáo ADO tháng Chín, Việt Nam tiếp tục được dự báo là nền kinh tế tăng trưởng thuộc hàng cao nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang phát triển trong năm 2026, với mức điều chỉnh tăng mạnh nhất trong khu vực.
ADB đã nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 lên mức 7,8%, tăng đáng kể so với con số 7,2% đưa ra trong báo cáo tháng 7. Tốc độ tăng trưởng năm 2027 được dự báo sẽ hạ nhẹ xuống mức 7,6%, vẫn cao hơn mức dự báo 7,0% được ADB đưa ra hồi tháng Bảy.
Những điểm nghẽn nội tại
Dù đã có nhiều tiến triển tích cực, ADB lưu ý rằng quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn chưa hoàn tất. Nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc lớn vào việc tích lũy vốn, tín dụng ngân hàng, lao động giá rẻ, nguồn vốn FDI và nguyên liệu đầu vào nhập khẩu.
Theo ADB, thách thức đầu tiên nằm ở sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng ngân hàng đã tương đương 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn mỏng, chỉ chiếm khoảng 10% GDP.
Do tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tiền gửi, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi ở nhiều ngân hàng đã tiến sát hoặc vượt trần quy định.
Bộ đệm vốn mỏng kết hợp với chênh lệch kỳ hạn kéo dài làm thu hẹp dư địa mở rộng tín dụng nhanh, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng lớn. Do đó, việc tiếp tục phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng có thể gia tăng rủi ro cho hệ thống tài chính, từ đó cản trở đà tăng trưởng dựa vào đầu tư.
Bên cạnh đó, Chuyên gia kinh tế trưởng Bùi Minh Giáp cũng lưu ý hiện tượng thâm hụt thương mại khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu.
Sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty Star Engineers Việt Nam, Khu công nghiệp Bình Xuyên I (Phú Thọ). (Ảnh: Nguyễn Thảo/TTXVN).
Trong giai đoạn từ tháng 1-7/2026, xuất khẩu tăng 21,7% nhờ các mặt hàng chủ lực như điện tử, hàng chế biến-chế tạo. Tuy nhiên, nhập khẩu lại tăng vọt 34,8%, khiến thâm hụt thương mại hàng hóa mở rộng lên 20,5 tỷ USD.
Phân tích sâu hơn, ông Bùi Minh Giáp cho rằng việc nhập siêu không hoàn toàn là tín hiệu xấu vì nó phản ánh hoạt động sản xuất đang mở rộng, các doanh nghiệp tăng cường nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và linh kiện để phục vụ nhu cầu sản xuất.
Dù vậy, ông nhấn mạnh mặt trái của hiện tượng này là nó cho thấy thực trạng nền kinh tế nội địa vẫn phụ thuộc khá nhiều vào các đầu vào nhập khẩu.
Một bài toán chiến lược khác được Giám đốc quốc gia ADB Shantanu Chakraborty đặt ra là phải gia tăng vai trò của khu vực tư nhân trong nước.
Báo cáo của ADB cho thấy trong giai đoạn từ tháng 1-7 năm nay, có tới 155.300 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, mặc dù cũng có 187.200 doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay trở lại hoạt động. Số lượng lớn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường phản ánh sức ép và những khó khăn kéo dài mà khối tư nhân đang phải gánh chịu.
Đại diện ADB nhấn mạnh, việc chuyển dịch theo hướng gia tăng vai trò của khu vực tư nhân trong nước không có nghĩa là coi nhẹ khu vực FDI. Ông khẳng định FDI vẫn rất quan trọng đối với tăng trưởng, xuất khẩu, công nghệ và việc làm.
Vấn đề cốt lõi là Việt Nam cần nâng cao năng lực của khu vực tư nhân trong nước để hấp thụ tốt hơn lợi ích từ FDI và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, đặc biệt khi khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp.
Song song với việc nâng cao năng lực của các doanh nghiệp trong nước, ông Bùi Minh Giáp cho rằng ưu tiên cải cách then chốt là chuyển từ tư duy "thu hút các dự án FDI" sang "xây dựng hệ sinh thái đầu tư mạnh mẽ xung quanh khu vực FDI".
Theo ông, việc sàng lọc và ưu đãi đầu tư cần chú trọng hơn đến giá trị gia tăng nội địa, chuyển giao công nghệ, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), tỷ lệ cung ứng nội địa, nâng cao kỹ năng lao động, hiệu quả bảo vệ môi trường và mức độ liên kết với các doanh nghiệp Việt Nam.
Có như vậy, dòng vốn FDI chất lượng cao mới trở thành động lực mạnh mẽ hơn thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
Giám đốc quốc gia của ADB tại Việt Nam nhấn mạnh đằng sau các con số tăng trưởng ấn tượng đã đạt được, vấn đề then chốt giờ đây nằm ở việc Việt Nam làm thế nào để duy trì đà tăng trưởng cao đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Để làm được điều đó, việc chuyển dịch mô hình tăng trưởng không còn là một lựa chọn, mà là một yêu cầu để đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hướng tới mục tiêu quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045./.



.png)
Đọc nhiều