Với hệ thống đền thờ các vị anh hùng dân tộc, Quảng trường Chiến thắng, nhà trưng bày và mô hình bãi cọc, Khu di tích Bạch Đằng Giang không chỉ là nơi tri ân tiền nhân mà còn góp phần đưa lịch sử đến gần hơn với công chúng. Từ những dấu tích, hiện vật và câu chuyện được lưu truyền, hào khí Bạch Đằng tiếp tục được bồi đắp trong nhận thức của các thế hệ hôm nay.
Danh sỹ Phạm Sư Mạnh thời Trần từng viết: “Giang san vượng khí Bạch Đằng thâu” (khí thiêng sông núi đọng lại ở chốn Bạch Đằng). Trải qua hàng nghìn năm, câu thơ ấy vẫn như lời khái quát đầy hàm súc về vùng đất Tràng Kênh-Bạch Đằng, nơi địa thế núi sông, trí tuệ con người và ý chí độc lập dân tộc đã hòa quyện để tạo nên những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử.

Tượng 3 vị anh hùng dân tộc (từ trái sang phải): Vua Lê Đại Hành, Đức Vương Ngô Quyền, Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tại Quảng trường chiến thắng. (Ảnh: Vietnam+)
Dòng sông của những quyết chiến chiến lược
Năm 938, trên dòng sông này, Ngô Quyền đã làm nên một cuộc quyết chiến có ý nghĩa mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc. Trước đội thuyền của quân Nam Hán do Hoằng Tháo chỉ huy tiến vào cửa biển, Ngô Quyền đã lựa chọn Bạch Đằng làm chiến trường, dựng trận địa cọc gỗ bịt nhọn dưới lòng sông và vận dụng quy luật thủy triều để đánh giặc.
Khi nước triều lên, quân ta dùng thuyền nhẹ ra khiêu chiến, rồi giả vờ rút lui để nhử địch tiến sâu vào trận địa. Đến khi nước rút, những chiến thuyền lớn của Nam Hán mắc cạn, bị cọc đâm thủng. Quân ta từ hai bên bờ đồng loạt tiến công, tiêu diệt đạo quân xâm lược và chủ tướng Hoằng Tháo.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 không chỉ là một trận đánh thắng lợi. Đó là dấu mốc khép lại hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời đại độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc. Từ chiến thắng ấy, mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, đặt nền móng cho một quốc gia độc lập.
Khu di tích Bạch Đằng Giang không chỉ là nơi tri ân tiền nhân mà còn góp phần đưa lịch sử đến gần hơn với công chúng. Từ những dấu tích, hiện vật và câu chuyện được lưu truyền, hào khí Bạch Đằng tiếp tục được bồi đắp trong nhận thức của các thế hệ hôm nay.
Đến năm 981, Bạch Đằng một lần nữa trở thành chiến trường quyết định. Trước cuộc tiến công của quân Tống, vua Lê Đại Hành trực tiếp cầm quân, kế thừa và vận dụng nghệ thuật trận địa cọc của Ngô Quyền. Cuộc quyết chiến đã góp phần đánh bại quân xâm lược, giữ vững nền độc lập non trẻ của Đại Cồ Việt.
Năm 1288, trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy quân dân Đại Việt bố trí trận địa mai phục quy mô lớn, tạo nên cuộc quyết chiến chiến lược trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba. Bằng nghệ thuật tận dụng địa hình sông nước, quy luật thủy triều và thế trận bãi cọc, quân dân nhà Trần đã đánh tan đạo quân xâm lược, tiêu diệt, bắt sống nhiều quân giặc và phá hủy hàng trăm chiến thuyền.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 không chỉ bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt, mà còn góp phần làm thất bại tham vọng bành trướng của đế chế Nguyên Mông ở khu vực. Có thể nói, đây không chỉ là một trận đánh đơn lẻ mà là điểm kết thúc của cả một chiến dịch được chuẩn bị kỹ lưỡng, từ chủ trương rút lui chiến lược, “vườn không nhà trống,” tiêu hao sinh lực địch đến lựa chọn thời cơ quyết chiến.

Đền thờ Đức vương Ngô Quyền. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, điều làm nên sức mạnh đặc biệt của chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là sự kết hợp giữa tư duy chiến lược và khả năng tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên. Hệ thống sông ngòi chằng chịt, các nhánh sông như sông Khoai, sông Chanh, sông Rút... trở thành nơi quân Trần ẩn quân, cơ động và bất ngờ xuất hiện. Trong khi đó, bãi cọc được bố trí tại những vị trí then chốt, tạo thành thế trận chặn đánh quy mô lớn.
Trong cuộc quyết chiến ấy, nghệ thuật quân sự của Đại Việt được đẩy lên một tầm cao mới: lấy yếu thắng mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, lấy địa hình và lòng dân làm sức mạnh. Khi đội hình chiến thuyền của quân Nguyên rơi vào thế hỗn loạn, quân Trần từ các ngả đồng loạt tiến công, bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi, đập tan ý đồ xâm lược của một đế chế hùng mạnh bậc nhất thời bấy giờ.



Các nhà nghiên cứu cho rằng, giá trị của Bạch Đằng không chỉ nằm ở chiến thắng quân sự, mà còn ở bài học về cách người Việt tổ chức và kết thúc chiến tranh. Đó là quá trình tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ; biết học hỏi từ cha ông, tiếp thu và cải biến kỹ thuật của đối phương, đồng thời dựa vào tri thức dân gian của cư dân bản địa.
Theo các nhà nghiên cứu, việc dựng bãi cọc có thể mất vài tháng chuẩn bị, nhưng tư duy về chiến dịch đã được tính toán từ rất lâu. Kỹ thuật đóng cọc trên sông cũng có thể bắt nguồn từ kinh nghiệm của ngư dân địa phương, từ cách be bờ, dựng cọc hình chữ V để lùa cá. Khi đi vào chiến trận, những tri thức dân gian ấy được nâng lên thành nghệ thuật quân sự.
Khi lịch sử được đánh thức
Ngày nay, Khu di tích Bạch Đằng Giang được xây dựng trên vùng đất Tràng Kênh - nơi hội tụ cảnh quan núi, sông, biển và dấu ấn lịch sử. Quần thể gồm đền thờ Đức vương Ngô Quyền, đền thờ vua Lê Đại Hành, Linh từ Tràng Kênh thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Trúc Lâm tự Tràng Kênh, đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà trưng bày, mô hình bãi cọc và Quảng trường Chiến thắng.

Xung quanh khu vực Quảng trường Chiến Thắng mô phỏng bãi cọc trên sông Bạch Đằng. (Ảnh: Vietnam+)
Đi qua những công trình ấy, du khách không chỉ nhìn thấy một không gian tâm linh, mà còn có thể hình dung phần nào về thế trận năm xưa. Trong khu nhà trưng bày, những thân cọc Bạch Đằng được bảo tồn như những nhân chứng lặng im của lịch sử. Bên cạnh đó là những chiếc thuyền cổ được khoét từ thân cây - loại thuyền xuất hiện từ thời Đông Sơn, từng phù hợp với việc di chuyển trên vùng sông nước, lau lách và bãi lầy. Chính sự cơ động của thuyền nhỏ đã giúp quân dân Đại Việt linh hoạt trong cách đánh, khác hẳn với những chiến thuyền lớn, nặng nề của đối phương.
Trước mô hình bãi cọc, nhiều học sinh dừng lại thật lâu. Các em chăm chú nghe hướng dẫn viên kể về những con nước, về những cọc gỗ nằm ẩn dưới lòng sông, về cách quân dân nhà Trần biến địa hình quen thuộc thành “túi lửa” nhấn chìm đội thuyền xâm lược.
Bạch Đằng hôm nay không còn tiếng trống trận, không còn những cánh buồm chiến thuyền lao trong con nước. Dòng sông vẫn chảy, núi Tràng Kênh vẫn đứng đó, còn những bãi cọc năm xưa đã trở thành biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và ý chí quật cường của dân tộc.
Ông Đỗ Văn Giàu, người dân địa phương và là hướng dẫn viên tại Khu di tích Bạch Đằng Giang, cho biết những ngày cuối tuần, nơi đây đón hàng nghìn học sinh, sinh viên đến tham quan, tìm hiểu lịch sử.
“Làm hướng dẫn viên ở đây, tôi mong góp phần truyền cho thế hệ trẻ tình yêu quê hương, đất nước. Khi kể về những chiến công trên sông Bạch Đằng, tôi luôn cố gắng kể bằng tất cả niềm tự hào để các em cảm nhận được lịch sử không hề xa xôi, mà đang hiện diện ngay trên mảnh đất mình đứng,” ông Giàu chia sẻ.
Để câu chuyện lịch sử không khô cứng, ông Giàu tìm đọc thêm sách báo, sưu tầm những giai thoại dân gian về vùng đất này: chuyện Ngô Quyền khảo sát địa thế để nghĩ ra kế đóng cọc; chuyện núi U Bò, nơi tương truyền Trần Hưng Đạo từng đứng quan sát và chỉ huy trận đánh; hay những ngôi đền do nhân dân lập nên để tưởng nhớ các tướng sỹ đã hy sinh trên dòng sông lịch sử.
Bạch Đằng hôm nay không còn tiếng trống trận, không còn những cánh buồm chiến thuyền lao trong con nước. Dòng sông vẫn chảy, núi Tràng Kênh vẫn đứng đó, còn những bãi cọc năm xưa đã trở thành biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và ý chí quật cường của dân tộc.
Đứng trước Quảng trường Chiến thắng, nhìn ba vị anh hùng dân tộc hướng về phía dòng sông, người ta hiểu vì sao Bạch Đằng không chỉ là một địa danh lịch sử. Đó là nơi ký ức dân tộc được đánh thức; nơi mỗi thế hệ hôm nay tìm thấy trong quá khứ một điểm tựa tinh thần để thêm trân trọng hòa bình, độc lập và trách nhiệm với non sông./.

Khu vực bia (từ trái qua phải) giới thiệu Đức vương Ngô Quyền, Hoàng đế Lê Đại Hành, Đại vương Trần Hưng Đạo và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Vietnam+)




Đọc nhiều