.jpg)
Người tiêu dùng chọn mua rau quả an toàn tại siêu thị trên địa bàn phường Rạch Giá. Ảnh: AN LÂM
Những phút đắn đo trước quầy hàng
Chiều cuối tuần, khu thực phẩm tươi sống tại siêu thị ở phường Rạch Giá khá đông khách. Trước quầy rau củ, chị Lê Thị Kim Ngân đẩy xe hàng chậm rãi dọc các kệ trưng bày. Một bên là rau hữu cơ giá khoảng 45.000 đồng/kg, bên kia là rau sản xuất thông thường chỉ khoảng 15.000 đồng/kg. Đắn đo khá lâu trước 2 mức giá, chị Ngân cho biết, gia đình vừa có trẻ nhỏ vừa có người lớn tuổi nên quan tâm đến chất lượng thực phẩm. Tuy nhiên, việc duy trì thói quen mua toàn bộ thực phẩm sạch không phải lúc nào cũng dễ.
“Rau hữu cơ thì yên tâm sử dụng nhưng mỗi lần đi chợ phải mua đủ thứ từ rau, thịt, cá đến trái cây. Nếu món nào cũng chọn loại tốt nhất thì chi phí sinh hoạt tăng đáng kể”, chị Ngân nói. Sau vài phút cân nhắc, chị lấy một ít rau hữu cơ, phần còn lại vẫn chọn rau thông thường. Theo chị, đây cũng là cách nhiều gia đình đang áp dụng để cân đối chi tiêu.
Tại một cửa hàng gạo trên đường Trần Quang Khải, phường Rạch Giá, chị Nguyễn Thị Tuyền đang xem các loại gạo được bày trên kệ. Cầm túi gạo đạt tiêu chuẩn VietGAP, sản xuất trên vùng đất nuôi tôm, được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao, chị Tuyền chăm chú đọc thông tin in trên bao bì. Khi nghe nhân viên giới thiệu giá khoảng 35.000 đồng/kg, chị khẽ gật đầu rồi đặt lại lên kệ. Sau vài phút so sánh, chị chọn loại gạo phổ thông có giá khoảng 13.000 đồng/kg. “Nghe giới thiệu thì thấy thích vì gạo an toàn, có thương hiệu rõ ràng, nhưng nhà đông người, lượng gạo sử dụng mỗi tháng khá nhiều. Chênh lệch hơn 20.000 đồng mỗi ký thì phải tính toán lại”, chị Tuyền nói.
Thực tế cho thấy người tiêu dùng hiện nay không còn thờ ơ với chất lượng thực phẩm. Họ tìm hiểu, cân nhắc và mong muốn sử dụng sản phẩm tốt hơn, nhưng quyết định cuối cùng vẫn chịu tác động lớn từ thu nhập thực tế của gia đình.
Giá trị của nông sản sạch
Tại xã Châu Thành, ông Nguyễn Văn Mười nhiều năm nay theo đuổi mô hình sản xuất gạo sạch. Trên cánh đồng của gia đình, việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được kiểm soát chặt chẽ nhằm tạo ra sản phẩm an toàn hơn cho người tiêu dùng.
Theo ông Mười, để làm ra hạt gạo sạch, người trồng lúa phải đầu tư nhiều công sức hơn, từ khâu chăm sóc, theo dõi dịch hại đến quản lý quy trình sản xuất. Chi phí vì vậy cao hơn so với cách canh tác thông thường. “Nhiều khách hàng ăn thử đều đánh giá gạo ngon, thơm và an tâm khi sử dụng. Tuy nhiên, khi đưa ra thị trường, mức giá vẫn là yếu tố khiến không ít người phải cân nhắc trước khi quyết định mua thường xuyên”, ông Mười cho biết.
Tình cảnh tương tự cũng diễn ra với nhiều người sản xuất rau sạch. Từng có 6 năm đưa rau thủy canh sạch ra thị trường, chị Diệp Thị Diễm Thúy - thành viên Hợp tác xã Nông sản hữu cơ Rạch Giá cho biết, hơn một năm nay chị tạm ngưng sản xuất. Theo chị Thúy, sản xuất rau sạch đồng nghĩa với việc hạn chế tối đa hóa chất trong quá trình canh tác. Công đoạn phòng trừ sâu bệnh chủ yếu dựa vào các chế phẩm sinh học từ lá sầu đâu, tỏi, ớt và nhiều nguyên liệu tự nhiên khác.
"Chi phí sản xuất rau sạch có khi gấp 3, gấp 4 lần so với cách làm thông thường. Một chai chế phẩm sinh học 1 lít dùng để phòng trừ sâu bệnh có giá gần 1 triệu đồng, trong khi 1 chai thuốc hóa học chỉ hơn 100.000 đồng. Sản xuất rau sạch chi phí cao, nhưng ra thị trường lại rất khó cạnh tranh về giá”, chị Thúy nói.
Điều khiến chị Thúy trăn trở là lượng khách hàng chấp nhận trả thêm tiền cho sản phẩm sạch vẫn còn khá hạn chế. “Chỉ khoảng 10% bạn bè, người quen của tôi chấp nhận mua rau sạch với giá khoảng 40.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 15.000 đồng/kg so với rau thông thường. Nhiều người hiểu giá trị của rau sạch nhưng khi đi chợ hằng ngày vẫn phải ưu tiên những mặt hàng phù hợp túi tiền”, chị Thúy nói.
Theo nhiều người sản xuất, giá bán của nông sản sạch hiện nay phản ánh phần nào chi phí thực tế mà họ phải bỏ ra. Từ vật tư sinh học, quy trình chăm sóc đến khâu kiểm soát chất lượng đều tốn kém hơn sản xuất đại trà. Trong khi đó, phần lớn người tiêu dùng vẫn phải cân đối nhiều khoản chi tiêu thiết yếu khác. Khoảng cách giữa giá thành sản xuất và khả năng chi trả khiến nhiều sản phẩm sạch dù được đánh giá cao vẫn khó mở rộng thị trường.
Để những sản phẩm sạch có mặt thường xuyên hơn trong bữa cơm gia đình, thiết nghĩ cần thêm thời gian, sự đồng hành của thị trường và những giải pháp giúp giảm chi phí từ khâu sản xuất đến tiêu thụ. Khi đó, khoảng cách giữa mong muốn và lựa chọn của người tiêu dùng mới dần được thu hẹp.
AN LÂM