-logo-20260716-215502-1.jpg)
Ông Trần Văn Sương kiên nhẫn đợi khách bên đường tại chợ Thứ Ba. Ảnh: BẢO TRÂN
7 giờ sáng, ngã ba dẫn vào chợ Thứ Ba, xã An Biên bắt đầu đông người. Tiếng xe máy, tiếng rao hàng, tiếng người mặc cả hòa vào nhịp chợ sớm. Bên lề đường, 3 chiếc xe máy cũ dựng thành hàng ngay ngắn. Ba người đàn ông ngồi lặng trên yên xe, mắt dõi theo dòng người qua lại.
Một người phụ nữ xách giỏ thức ăn trong chợ bước ra. Ông Trần Văn Sương, ngụ ấp Thứ Ba khẽ mỉm cười hỏi: “Đi đâu cô?”. Người phụ nữ lắc đầu nói: “Có người nhà rước rồi”. Ông lại lặng lẽ ngồi xuống. 30 phút sau, mây đen kéo kín bầu trời. Người bán hàng vội thu dọn, những người chạy xe ôm hối hả tìm chỗ trú. Chỉ còn ông Sương vẫn kiên nhẫn đậu xe dưới chiếc dù bạc màu của một tiểu thương. Ông Sương nói: “Trời mưa người ta ngại đi bộ, muốn về nhanh. Tôi đậu sẵn ở đây dễ có khách hơn”. Quả thật, vài phút sau, một phụ nữ xách 2 túi thức ăn nặng bước tới. Không mặc cả, bà tự treo đồ lên xe rồi nhanh nhẹn đội nón. “Khách quen, tôi chở vô kênh Cây Xoài khoảng 10 cây số, giá 50.000 đồng”, ông Sương nói rồi nổ máy. Chiếc xe cũ chầm chậm lăn bánh trong cơn mưa vừa đổ xuống.
Ở tuổi 55, ông Sương có hơn 10 năm gắn với nghề xe ôm. Ngày trước, gia đình ông buôn bán nhỏ. Khi vợ ông bị tai biến, ông chọn nghề chạy xe ôm vì chủ động thời gian để chăm sóc vợ. Khách của ông chủ yếu là người quen, người lớn tuổi đi chợ, đi bệnh viện, ra bến xe, bến tàu... Khác với xe ôm công nghệ tính cước theo quãng đường, xe ôm truyền thống thường tính theo từng chuyến. Giá dựa vào sự quen biết và thỏa thuận giữa khách với người chạy xe. Có ngày ông kiếm được 200.000 - 300.000 đồng, nhưng cũng có hôm ngồi cả buổi không có khách.
Nếu ông Sương vào nghề xe ôm khi nghề bước vào thời kỳ thoái trào thì ông Thái Văn Hai (60 tuổi), ngụ xã Châu Thành là người từng đi qua thời hoàng kim của nghề. Nhớ lại những năm 2000 - 2010, ông Hai kể: “Lúc đó xe ôm làm ra tiền lắm. Tôi mua chiếc xe máy hơn 14 triệu đồng, chạy hơn 1 năm là lấy lại vốn. Ngày ấy, chiếc xe máy là tài sản lớn của gia đình. Người cần đi nhiều hơn người có xe vì vậy xe ôm luôn đắt khách. Có những ngày chạy không kịp ăn cơm, chạy tới 10 - 11 giờ đêm cũng có”.
Dần dần nhiều người theo nghề nên ở các bến xe ôm luôn có luật bất thành văn: Ai đến trước được đón khách trước, lần lượt xoay vòng để tránh tranh giành. Khoảng sau năm 2012, lượng khách giảm dần. Ông Hai bỏ nghề đi làm thuê nuôi con ăn học. Nay tuổi đã lớn, sức khỏe không còn đủ để làm việc nặng, ông lại quay về chiếc xe máy cũ ngày nào, đậu ở bến xe Rạch Sỏi. “Giờ ai cũng có xe máy, có điện thoại để gọi xe công nghệ nên nghề này không còn dễ sống như trước. Tôi chạy kiếm đồng ra đồng vô, gặp người này người kia nói chuyện cho vui”, ông Hai nói rồi nhìn theo dòng người vẫn vội vã lướt qua.
Một thanh niên đứng cách ông Hai chỉ vài bước chân, thay vì gọi người đang đậu xe sẵn dưới gốc cây, thanh niên ấy rút điện thoại, mở ứng dụng đặt xe. Vài phút sau, một tài xế mặc áo xanh chạy tới. Người khách bước lên xe, chiếc xe công nghệ nhanh chóng hòa vào dòng người. Ông Hai chỉ lặng lẽ nhìn theo. Cảnh tượng ấy diễn ra gần như mỗi ngày nên ông không còn thấy lạ. Tôi hỏi ông sao không chạy xe ôm công nghệ, ông cười xòa, lắc đầu nói: “Tôi già rồi, điện thoại thông minh còn dùng chưa rành. Với lại chạy ứng dụng cũng nhiều quy định, phải trừ phí... tôi không theo nổi”.
Công nghệ không chỉ thay đổi cách người ta gọi một chuyến xe mà còn thay đổi cả cách mưu sinh của những người cầm lái. Ở các đô thị, thành phố lớn, sắc áo xanh, vàng của xe ôm công nghệ phủ kín tuyến phố, với giá cước công khai, nhiều tiện ích khiến xe ôm truyền thống dần thu hẹp chỗ đứng. Tuy nhiên, ở vùng quê, nơi nhiều người vẫn chuộng sự quen biết và tin cậy, nghề xe ôm truyền thống vẫn còn đất sống. Dẫu vậy đất sống ấy ngày càng hẹp, chỉ những ai chịu thay đổi mới có thể sống vững với nghề.
Ở tuổi 38, anh Nguyễn Dân, ngụ xã Đông Thái là một trong những người chọn cách thích nghi với thời cuộc. Chiếc xe máy vẫn là phương tiện mưu sinh quen thuộc nhưng cách tìm khách đã khác. Sau mỗi chuyến xe, anh đều lưu số điện thoại của khách, chủ động làm quen với tiểu thương trong chợ, người bán hải sản, chủ vựa... Ai cần chở người, giao hàng, mua đồ ăn hay vận chuyển hải sản đều nhớ đến anh. Trên trang cá nhân, anh công khai giá cước, số điện thoại để người có nhu cầu dễ liên hệ. Nhờ vậy, anh có thu nhập ổn định hơn 400.000 đồng/ngày mà không cần ngồi hàng giờ bên lề đường ngóng khách. Anh Dân chia sẻ: “Thời buổi này mình không thể chỉ ngồi một chỗ đợi khách nữa. Muốn sống được với nghề thì phải biết thay đổi cách làm, biết tận dụng những cái mới để phục vụ khách hàng tốt hơn”.
Giữa dòng chảy của thời đại số, nghề xe ôm truyền thống vẫn còn chỗ đứng nhưng không thể tồn tại bằng cách làm cũ. Điều quyết định thu nhập của nghề phần lớn từ khả năng thích nghi trước thay đổi, bởi trong bất kỳ thời đại nào người dễ bị bỏ lại phía sau thường vì ngại thay đổi.
BẢO TRÂN