
Người dân lấy nước thốt nốt. Ảnh: THÀNH CHINH
Niềm vui ấy đến nay vẫn đọng lại như vị mật ngọt bền bỉ, thấm sâu vào lòng người Bảy Núi, để mỗi độ xuân về, câu chuyện những giọt mật trong veo lại được nhắc đến như biểu tượng của lao động, ký ức và niềm tin nơi vùng đất nghĩa tình, hiền hòa. Người Bảy Núi gọi thốt nốt là cây của miền nắng. Thân cây cao sừng sững, tán lá xòe rộng như chiếc ô khổng lồ, in bóng lên đường chân trời của Thất Sơn.
Nhìn từ xa, những hàng thốt nốt như những nét vẽ phóng khoáng, thân thuộc của thiên nhiên. Cây đứng đó, lặng lẽ, bền bỉ như một chứng nhân của bao mùa mưa nắng. Từ lá, trái đến từng giọt nước rỉ ra từ cuống hoa, thốt nốt hào phóng ban tặng con người những gì tinh túy nhất. Không chỉ mang lại sinh kế cho bao thế hệ người dân, cây còn giữ trong mình hương vị mộc mạc của đất trời, của ký ức, của một vùng quê mà chỉ cần nhắc tên đã thấy lòng dịu lại.
Mùa khai thác nước thốt nốt bắt đầu từ cuối tháng 11 âm lịch đến hết tháng tư năm sau. Sáng tinh mơ, khi sương còn giăng nhẹ trên đồng, tiếng gọi nhau í ới đã vang lên. Người ta nói vui về nghề này là “ăn cơm dưới đất, làm việc trên trời”. Câu nói mộc mạc mà gói trọn sự vất vả, liều lĩnh và cả niềm tự hào của những người thợ leo cây.
Những thân thốt nốt thẳng tắp như cột trụ khổng lồ giữa cánh đồng là thử thách cho sự khéo léo và gan dạ. Thang tre được người dân gia cố chắc từng bậc, buộc chặt vào thân thốt nốt. Đôi tay chai sạn nắm chặt, đôi chân rắn rỏi bước đều. Nhịp trèo thoăn thoắt hòa cùng tiếng lá xào xạc tạo nên một giai điệu lao động vừa mạnh mẽ vừa nhịp nhàng, như thể con người và cây đã hiểu nhau qua bao mùa nắng gió.
Lên đến ngọn, người thợ dùng dao bén khẽ rạch cuống bông đực, buộc hũ nhựa đón dòng nước quý. Qua một đêm sương, giọt nước trong veo nhỏ xuống đều đặn, lặng lẽ. Mỗi giọt như chắt lọc tinh túy đất trời và cả quãng thời gian đợi chờ bền bỉ, bởi phải gần 30 năm cây mới đủ độ trưởng thành để dâng tặng vị ngọt ấy. Công việc này không chỉ đòi hỏi kỹ thuật mà còn cần kinh nghiệm và sự thấu hiểu.
Người thợ phải biết từng cây như hiểu tính nết một người bạn tri kỷ: Cây nào cho nước ngọt, cây nào cần nghỉ để hồi sức. Chính sự chăm chút ấy khiến lao động trở thành một nghệ thuật thầm lặng, nơi con người đối thoại với thiên nhiên bằng nhẫn nại và tôn trọng. Nước thốt nốt được mang về, lọc sạch rồi đổ vào những chiếc nồi lớn đặt trên bếp. Lửa được nhóm bằng củi hoặc trấu, cháy đượm và đều. Người nấu đứng khuấy liên tục để nước dần cô đặc.
Từ màu trắng ngà, nước thốt nốt chuyển sang vàng ươm, sánh lại như mật. Mùi thơm ngọt lan khắp gian bếp, quyện vào khói lửa thành thứ hương vị rất riêng mà chỉ ai từng đứng bên nồi đường mới cảm nhận trọn vẹn. Khi đạt độ keo, đường được đổ khuôn, để nguội và gói trong lá thốt nốt. Những viên đường vàng óng không chỉ là thành quả của một quy trình tỉ mỉ mà còn là kết tinh của mồ hôi, sự khéo léo và niềm tự hào của người làm nghề.
Đường thốt nốt hiện diện như linh hồn trong nhiều món ăn ngày Tết. Vị ngọt thanh dịu làm món ăn đậm đà mà không gắt, ngọt mà không ngấy. Trong ký ức tôi, gian bếp cuối năm luôn rộn ràng tiếng bếp củi lách tách, tiếng sên mứt đều tay, tiếng cười nói xôn xao. Mẹ sên mứt dừa bằng đường thốt nốt, sợi dừa trắng ngần ngấm mật đường trở nên vàng óng ánh. Và tôi không thể nào quên hình ảnh nồi thịt kho hột vịt sóng sánh nước màu thốt nốt, thơm lừng. Những đòn bánh tét nhân đậu xanh xào đường tỏa hương ngan ngát khi vừa vớt khỏi nồi.
Có khi, mẹ tôi còn làm bánh bò thốt nốt. Chỉ cần cắn một miếng bánh mềm xốp, vị ngọt thanh đã như gom cả mùa xuân vào đầu lưỡi. Đối với tôi, những món ăn ấy không chỉ là hương vị Tết mà là mảnh ghép ký ức dịu dàng của tình thân. Trên những cung đường nắng gắt của vùng Bảy Núi, những quán nhỏ dưới bóng cây ven đường mời khách phương xa ly nước thốt nốt mát lành. Vị ngọt thanh thấm dịu, những múi thốt nốt trắng ngần tan trong miệng. Nhìn ra xa là hàng cây thốt nốt xanh bạt ngàn, từng làn gió nhẹ thổi qua, bao mệt mỏi dường như tan biến. Nhiều người khách rời đi, họ mang theo những viên đường vàng óng và vài chai nước thốt nốt như mang theo cả hương vị đất trời và cái tình mộc mạc, chân chất của con người nơi đây. Thời gian dần trôi, người đi xa, người ở lại, nhưng mỗi độ xuân về, hương thốt nốt lại gợi nỗi nhớ gian bếp xưa. Hương vị ngày cũ trở thành sợi dây vô hình níu người trở về, nhắc rằng nơi bắt đầu của mọi yêu thương vẫn là căn bếp nhỏ có mùi đường thốt nốt thơm lừng của mẹ.
Xuân này, nghĩ về thốt nốt, tôi nghĩ về niềm tin. Tin rằng từ vị ngọt thanh tao ấy, quê hương sẽ tiếp tục kể câu chuyện của mình, đó là câu chuyện về lao động, ký ức và hy vọng. Thất Sơn vẫn đứng đó, lặng lẽ mà kiêu hãnh, giữ trọn vị ngọt cho những mùa xuân sau.
HUỲNH CAM