GDP quý III/2026 tăng 9,95%, 9 tháng tăng 9,01%

03/10/2026 - 09:46

GDP quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước; tăng trưởng 9 tháng đạt 9,01%, công nghiệp - xây dựng tiếp tục là động lực quan trọng của nền kinh tế.

Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa công bố, GDP quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II.

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%, còn khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.

Xét về sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng trong quý III tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%, trong khi nhập khẩu tăng 28,75%.

Tính chung 9 tháng năm 2026, GDP ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35%; công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

GDP quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. (Ảnh minh họa)

GDP quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. (Ảnh minh họa)

Công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng

Trong 9 tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì đà tăng trưởng tích cực. Năng suất, sản lượng lúa, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản tăng, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Giá trị tăng thêm của khu vực này tăng 4,02%. Trong đó, nông nghiệp tăng 3,72%, lâm nghiệp tăng 3,99% và thủy sản tăng 4,99%.

Đáng chú ý, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Các động lực được mở rộng, một số dự án quy mô lớn đi vào hoạt động, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và tiến độ đầu tư công được đẩy mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và xây dựng.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng tăng 11,02%, đóng góp 41,39% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85%; ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.

Ở khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ đời sống tiếp tục tăng trưởng. Giá trị tăng thêm khu vực này 9 tháng tăng 8,69%.

Một số ngành ghi nhận mức tăng đáng kể, như vận tải, kho bãi tăng 11,03%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,85%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,45%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,83%.

Về cơ cấu nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; dịch vụ chiếm 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03%.

IIP 9 tháng tăng cao nhất kể từ năm 2019

Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì mức tăng hai con số. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III/2026 ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 9 tháng, IIP tăng 12,3%, là mức tăng cao nhất trong cùng kỳ kể từ năm 2019 đến nay. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%.

Trong quý III, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,8%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%; khai khoáng tăng 12,2%.

Một số ngành công nghiệp trọng điểm có mức tăng cao trong 9 tháng gồm sản xuất kim loại tăng 25,5%; sản xuất đồ uống tăng 17,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%.

Các ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác và chế biến thực phẩm cùng tăng 12,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,4%.

Ở chiều ngược lại, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,4%, trong khi khai thác than cứng và than non chỉ tăng 0,1%.

Trong 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng tại cả 34 địa phương so với cùng kỳ năm trước. Nhiều địa phương ghi nhận mức tăng cao nhờ sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện.

Ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, Hà Tĩnh dẫn đầu với mức tăng 40%, tiếp đến là Quảng Ninh tăng 33,6%, Bắc Ninh tăng 29,3%, Nghệ An tăng 25,8% và Thái Nguyên tăng 23,7%.

Đối với ngành sản xuất và phân phối điện, Quảng Trị ghi nhận mức tăng cao nhất, đạt 109%. Các địa phương có mức tăng đáng chú ý khác gồm Hà Tĩnh (49,5%), Hưng Yên (15,3%) và Phú Thọ (13%).

Trong 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng tại cả 34 địa phương so với cùng kỳ năm trước. Nhiều địa phương ghi nhận mức tăng cao nhờ sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện. (Nguồn: Cục Thống kê)

Trong 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng tại cả 34 địa phương so với cùng kỳ năm trước. Nhiều địa phương ghi nhận mức tăng cao nhờ sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện. (Nguồn: Cục Thống kê)

Gần 150.000 doanh nghiệp thành lập mới

Trong tháng 9, cả nước có gần 11.600 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 175.800 tỷ đồng và gần 75.500 lao động đăng ký.

So với tháng 8, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 4,9%, vốn đăng ký giảm 7,2%, nhưng số lao động đăng ký tăng 25%.

Tính chung 9 tháng, cả nước có gần 149.700 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký 1,884 triệu tỷ đồng và hơn 733.100 lao động đăng ký.

So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 3,2%, vốn đăng ký tăng 32,7%, trong khi số lao động đăng ký giảm 16,1%. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5%.

Bên cạnh đó, gần 74.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 14% so với cùng kỳ. Tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt hơn 223.900 doanh nghiệp, bình quân mỗi tháng có khoảng 24.900 doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Ở chiều ngược lại, bình quân mỗi tháng có khoảng 19.100 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 9 tháng.

Vốn FDI đăng ký tăng hơn 76%

Tính đến ngày 30/9, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, 3.108 dự án được cấp phép mới với tổng vốn đăng ký 29,24 tỷ USD, tăng 6,2% về số dự án và gấp 2,4 lần về vốn so với cùng kỳ.

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thu hút lượng vốn cấp mới lớn nhất với 13,38 tỷ USD, chiếm 45,8% tổng vốn đăng ký. Tiếp đến là vận tải, kho bãi với 5,14 tỷ USD, chiếm 17,6%.

Singapore là nhà đầu tư lớn nhất trong số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án được cấp phép mới, với 9,26 tỷ USD, chiếm 31,7% tổng vốn đăng ký cấp mới. Hàn Quốc đứng thứ hai với 5,70 tỷ USD, tiếp đến là Luxembourg, Hong Kong (Trung Quốc), Trung Quốc và Nhật Bản.

Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam trong 9 tháng ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức vốn FDI thực hiện cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.

Trong tổng vốn FDI thực hiện, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,40 tỷ USD, chiếm 82,6%; kinh doanh bất động sản đạt 1,59 tỷ USD, chiếm 7,5%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 723,4 triệu USD, chiếm 3,4%.

Tại các địa phương, 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng GRDP từ 10% trở lên trong 9 tháng. Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%, tiếp theo là Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08%, Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Theo số liệu, tăng trưởng cao tập trung chủ yếu tại các địa phương có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và khu vực dịch vụ.

Theo VTC News