Khơi thông vốn, mở rộng thị trường để giữ đà xuất khẩu gạo

30/01/2026 - 14:17

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026 đối mặt thách thức kép cả về thị trường lẫn năng lực thu mua, dự trữ khi vụ Đông Xuân đang cận kề.

Tái cấu trúc từ sản xuất đến thương mại lúa gạo là hướng đi tất yếu nhưng chỉ doanh nghiệp tham gia là chưa đủ, mà phải có sự điều phối của nhà nước và đồng hành từ tổ chức tín dụng.

Chú thích ảnh

Bốc xếp gạo Việt Nam xuất khẩu. Ảnh minh họa: TTXVN

Xuất khẩu duy trì sự ổn định

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu 7,9 triệu tấn gạo, với kim ngạch 4,02 tỷ USD, giảm 13,1% về lượng và giảm 29,1% về giá trị so với năm trước. Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đánh giá, trong bối cảnh giá gạo thế giới giảm, hầu hết các quốc gia đều gặp khó khăn về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn đạt trên 4 tỷ USD là kết quả đáng ghi nhận. Dù kim ngạch xuất khẩu giảm so với năm 2024, Việt Nam đã vượt qua Thái Lan trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau Ấn Độ.

Đáng chú ý, trong khi mặt bằng giá gạo trắng xuất khẩu trên thế giới chỉ ở mức từ 350 – 400 USD/tấn, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam bình quân đã đạt 510 USD/tấn. Đây là thành quả của việc chuyển đổi từ gạo trắng sang gạo thơm, gạo đặc sản, giúp tăng sức cạnh tranh cho gạo Việt Nam.

Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam cũng chỉ ra hạn chế lớn nhất của Việt Nam là tập trung xuất khẩu vào một thị trường, cụ thể có đến 40 - 50% sản lượng gạo xuất khẩu sang Philippines. Do đó, khi thị trường này có biến động như quyết định dừng nhập khẩu trong năm 2025 thì doanh nghiệp ngay lập tức rơi vào thế bị động.

Theo ông Đỗ Hà Nam, sau thời gian tích cực trao đổi, phía Philippines đã “mở cửa” nhập khẩu gạo trở lại, tuy nhiên Chính phủ nước này lại áp dụng cơ chế cấp hạn ngạch nhập khẩu theo từng tháng làm giảm nhịp độ của thị trường. Việc cấp hạn ngạch “nhỏ giọt” làm doanh nghiệp không chủ động được kế hoạch xuất hàng, tạo sức ép dây chuyền lên khâu thu mua, giá lúa và thu nhập của nông dân, đặc biệt khi vụ Đông Xuân bước vào cao điểm thu hoạch.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn gặp vướng mắc lớn trong khâu thanh toán thu mua lúa. Theo quy định hiện hành, các giao dịch trên 5 triệu đồng phải chuyển khoản mới được khấu từ chi phí thuế, trong khi thực tế chuỗi thu mua lúa vẫn chủ yếu thông qua thương lái đến từng hộ dân. Doanh nghiệp không thể trực tiếp thu mua từ nông dân, nhưng cũng không được thanh toán tiền mặt cho thương lái. Trong khi nhiều nông dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, chưa có tài khoản ngân hàng hoặc gặp khó khăn trong việc tiếp cận điểm rút tiền, dẫn tới tâm lý chỉ bán lúa cho người thanh toán tiền mặt. Thực tế này khiến lúa hàng hóa khó tiêu thụ, giá bị ép thấp, trong khi chi phí đầu vào của nông dân ngày càng gia tăng.

Nâng chất sản phẩm

Chủ tịch VFA cho rằng: Hướng đi căn cơ của ngành lúa gạo Việt Nam là tiếp tục chuyển mạnh sang sản xuất gạo chất lượng cao, tập trung vào các thị trường có mức sống tốt, sẵn sàng trả giá cao. Dự báo năm 2026 thị trường lúa gạo tiếp tục nhiều biến động, việc nâng tỷ lệ sản xuất gạo thơm, gạo đặc sản là định hướng đúng, song bài toán đầu ra và dòng vốn cần được giải quyết đồng bộ.

Trước mắt, để kịp thời thu mua hết lúa gạo trong vụ Đông Xuân, VFA kiến nghị hệ thống ngân hàng linh hoạt nâng hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp mua tạm trữ. Do tính chất mùa vụ, doanh nghiệp cần lượng vốn rất lớn vào thời điểm thu hoạch rộ, nhưng nhu cầu vốn sẽ giảm mạnh sau đó. Khi có đủ nguồn lực tạm trữ, doanh nghiệp có thể bán hàng theo nhịp thị trường, tránh bị nhà nhập khẩu ép giá vào giai đoạn cao điểm thu hoạch. Song song đó, VFA khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh trữ lúa khô, hình thức có thể bảo đảm chất lượng lúa gạo từ 6 tháng đến một năm, trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống kho silo và bao chứa chuyên dụng.

Hiệp hội cũng đề nghị Chính phủ tăng cường tạm trữ quốc gia nhằm hỗ trợ giá lúa gạo khi giá thị trường đang ở mức thấp, trong khi chất lượng lúa vụ Đông Xuân được đánh giá rất tốt. Đồng thời, cần đẩy mạnh hơn nữa các hợp đồng cấp Chính phủ (G2G). Thời gian qua, Việt Nam đã ký kết được một số hợp đồng G2G với Singapore và Senegal; VFA đã ủy quyền cho Vinafood 1 và Vinafood 2 triển khai và mong muốn các hợp đồng này sớm được thực hiện. Với các thị trường truyền thống trước đây như Iraq và Syria, nơi hiện nay Thái Lan đang chiếm ưu thế, VFA đề nghị các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục kết nối để khôi phục và mở rộng thị phần gạo Việt.

Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Lộc Trời chia sẻ, sản xuất lúa gạo Việt Nam đã và đang đi đúng hướng khi đẩy mạnh tái cơ cấu giống lúa sang các loại chất lượng cao, ứng dụng kỹ thuật mới vào canh tác. Nhờ đó, Việt Nam tự tin có thể sản xuất gạo theo yêu cầu của những khách hàng, quốc gia có tiêu chuẩn khắt khe nhất. Điển hình như gạo Jasmine của Việt Nam đã thâm nhập được Nhật Bản và Hàn Quốc dù chịu nhiều rào cản.

Riêng tại Nhật Bản, gạo nhập khẩu phải chịu thuế rất cao nhưng vẫn có sức tiêu thụ tốt, trong thời gian ngắn, cho thấy nhu cầu thực tế rất lớn. Thị trường Nhật Bản có thể tiêu thụ gạo có giá lên đến 8.000 USD/tấn. Cùng với cộng đồng người Việt tại Nhật Bản ngày càng đông và sự quan tâm của doanh nghiệp Nhật đối với đề án một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp của Việt Nam, dư địa để tăng thị phần gạo chất lượng cao tại Nhật Bản còn rất nhiều. Ngoài ra, gạo ST25 của Việt Nam cũng được rất nhiều thị trường ưa chuộng, không đủ hàng để bán.

Song, việc tổ chức chuỗi lúa gạo vẫn đang tồn tại “điểm nghẽn” về dòng vốn. Ngân hàng luôn có tiền nhưng doanh nghiệp và nông dân vẫn thiếu vốn để sản xuất, thu mua. Nông dân sản xuất cần vốn để đầu tư giống, phân bón, trang bị máy móc cơ giới hoá; trong khi đó doanh nghiệp cần lượng lớn vốn trong thời gian ngắn để thu mua khi vào mùa vụ.

Theo ông Huỳnh Văn Thòn, dòng vốn chỉ được khơi thông khi ngân hàng tham gia vào chuỗi sản xuất - tiêu thụ lúa gạo với tư cách là một thành viên, một mắt xích thực thụ chứ không chỉ là đối tác, đơn vị hỗ trợ. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế đặc thù, phù hợp với điều kiện sản xuất - thu mua theo mùa vụ của lúa gạo.

Đại diện Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, với vai trò là ngân hàng thương mại nhà nước giữ vị trí chủ lực trong đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Agribank đã chủ động ký kết và triển khai nhiều chương trình phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm cụ thể hóa các mục tiêu của Đề án phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Agribank đã triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô lên đến 30.000 tỷ đồng. Theo đó, các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ dân tham gia chuỗi liên kết được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi, với lãi suất cho vay thấp hơn từ 1 -1,5%/năm so với thông thường, mức vay không có tài sản bảo đảm lên đến 80% giá trị phương án, dự án liên kết. Đây được xem là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam.

Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ làm việc với các ngân hàng về kế hoạch tăng dư nợ cho ngành nông nghiệp nhằm đảm bảo việc thu mua lúa gạo kịp thời. Về phía doanh nghiệp cũng cần chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng dòng vốn cho từng mùa vụ. Về thị trường, với 85% diện tích canh tác lúa chất lượng cao, gạo Việt Nam có lợi thế cạnh tranh ở nhiều khu vực. Việt Nam cũng có nhiều giống lúa đặc sản được các thị trường cao cấp ưa chuộng. Tuy nhiên, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp xuất khẩu cần tập trung xây dựng thương hiệu cho lúa gạo Việt Nam, tăng tính nhận diện và giá trị kinh tế cho chuỗi. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp Bộ Công Thương tiếp tục đẩy mạnh quảng bá thương hiệu gạo Việt ra thế giới.

Theo TTXVN