Những bài học đạo lý sống nơi non thiêng Nghĩa Lĩnh

23/04/2026 - 16:40

Hội tụ linh khí sông núi, lắng đọng công đức tiền nhân trải dài suốt hàng nghìn năm lịch sử, non thiêng Nghĩa Lĩnh như một chứng nhân linh thiêng, điểm tựa tâm linh bền vững chất chứa bao ước nguyện, niềm tin và bài học sâu nặng ân tình mà cha ông gửi lại cho hậu thế. Không chỉ đền miếu uy nghiêm, hoành phi câu đối thâm trầm nhiều tầng ý nghĩa, dường như mỗi phiến đá, tán cây nơi đây cũng mang trong mình những huyền tích nhắc nhở con cháu về truyền thống dựng nước, giữ nước, về tình đoàn kết dân tộc trong nghĩa đồng bào, về đạo lý sống trọn nghĩa vẹn tình “ăn quả nhớ người trồng cây”.

Đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh.

Khí phách Việt, tâm hồn Việt

Khu di tích lịch sử Đền Hùng hiện còn khoảng 100 bức đại tự, hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng, chạm khắc công phu trên đá và gỗ quý. Trên bề mặt nhiều hoành phi còn trang trí triện gấm, hình lưỡng long tranh châu uy nghiêm, thể hiện sự tôn kính thiêng liêng đối với tổ tiên dân tộc.

Ngay tại cổng chính Đền Hùng sừng sững bức đại tự bốn chữ Hán “Cao sơn cảnh hành”. Theo các học giả, bốn chữ được trích từ Kinh Thi với ý nghĩa: Núi cao để ngưỡng vọng, đường lớn để noi theo. Đó vừa là sự tôn vinh công đức tổ tiên, vừa là lời nhắn nhủ sâu sắc về con đường đạo lý mà hậu thế cần tiếp bước. Cùng với đó, các bức hoành phi, đại tự tại Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng và Đền Giếng đều có ý nghĩa ca ngợi công đức Vua Hùng, giáo dục con cháu, thế hệ mai sau phải biết “uống nước nhớ nguồn”, tri ân công đức tổ tiên như: Kiền khai khôn hợp (cha mẹ sinh ra bọc trăm trứng) ở Đền Hạ; Hùng Vương linh tích (vết tích linh thiêng của Vua Hùng), Hùng Vương tổ miếu (miếu tổ Hùng Vương) ở Đền Trung; Triệu cơ vương tích (vết tích vua trên nền đầu tiên), Tử tôn bảo chi (con cháu giữ gìn) ở Đền Thượng; Ẩm hà tư nguyên (uống nước nhớ nguồn ) ở Đền Giếng...

Trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, những câu đối tại Đền Thượng hàm chứa tư tưởng sâu sắc về cội nguồn dân tộc: “Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ/ Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn” (nghĩa là: Đất này, núi này, dân nước Nam ghi nhớ/ Vua ta, tổ ta, như Bắc Đẩu trên cao); hay: “Thần thánh khải Nam bang, chí kim địa bất cải tịch, dân bất cải tụ/Huân cao phụng thanh miếu, thị vị mộc chi hữu bản, thủy chi hữu nguyên” (nghĩa là: Thần thánh mở nước Nam, đến nay dân vẫn đông, đất vẫn rộng/ Công lao thờ tại miếu, ấy là cây có gốc, nướccó nguồn)...

Ở Lăng Hùng Vương, tương truyền thờ Vua Hùng thứ 6 có câu đối chữ Nôm: “Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà, non nước vẫn quay về Đất Tổ/ Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mồ ông”.

Mỗi câu đối như lắng đọng hồn thiêng sông núi suốt mấy nghìn năm lịch sử, khẳng định công lao trời biển của các Vua Hùng trong việc khai cơ lập quốc, gây dựng non sông, bồi đắp nòi giống Lạc Hồng và nhắc nhở các thế hệ con cháu tiếp tục gìn giữ cơ đồ cha ông để lại.

Không chỉ mang giá trị lịch sử, những câu đối còn hàm chứa sâu sắc đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam - một dân tộc luôn coi trọng cội nguồn với triết lý giản dị mà bền vững: Cây có cội, sông có nguồn, chim có tổ, người có tông. Hiếm có nơi nào trên đất nước ta mà hệ thống hoành phi, câu đối lại thấm đẫm khí phách Việt, tâm hồn Việt như nơi Đền Hùng linh thiêng.

Cột đá thề gìn giữ cơ nghiệp ông cha

Bên phải Điện Kính Thiên tại Đền Thượng hiện còn cột đá thề - biểu tượng cho lời thề thiêng liêng của Thục Phán An Dương Vương khi tiếp nhận cơ nghiệp từ Hùng Duệ Vương. Theo truyền thuyết, để tránh cuộc chiến “nồi da nấu thịt” gây tổn thất cho muôn dân, Tản Viên Sơn Thánh đã khuyên Vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Khi được trao cơ nghiệp, Thục Phán dựng cột đá giữa núi Nghĩa Lĩnh, chỉ trời mà thề: “Nguyện có trời cao lồng lộng soi xét... Nước Nam trường tồn lưu ở miếu Hùng Vương. Ví bằng vua sau nối nghiệp trái ước phai thề sẽ bị trăng vùi gió dập, trời đất cùng tru diệt”.

Lời thề không chỉ là sự tri ân đối với công lao dựng nước của các Vua Hùng, mà còn là lời răn sâu sắc gửi tới hậu thế: Phải giữ gìn cơ nghiệp tổ tiên, giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, tránh cảnh huynh đệ tương tàn.

Những “chứng nhân xanh” của lịch sử

Quần thể Đền Hùng không chỉ lưu giữ giá trị lịch sử qua kiến trúc mà còn qua hệ sinh thái rừng rộng lớn. Những cây cổ thụ hàng trăm, hàng nghìn năm tuổi nơi đây như những “chứng nhân xanh” âm thầm chứng kiến bao biến thiên của lịch sử dân tộc.

Tiêu biểu là “cụ vạn tuế” hơn 800 năm tuổi ở Chùa Thiên Quang. Gần một thiên niên kỷ, “cụ vạn tuế” đã chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử dân tộc. “Cụ” có tán 3 ngọn rất đẹp. Từ Nam ra Bắc chưa thấy cây nào như thế. Vậy nên nhiều người tin rằng, cây mọc nơi đất thiêng biểu tượng cho ba miền Bắc - Trung - Nam không thể tách rời của nước Việt.

Cũng tại Chùa Thiên Quang hiện còn hai cây đại cổ thụ, trước cửa một cây, đằng sau một cây và ở Đền Giếng có một cây. Những cây này so với những cây đại ở khu Văn Miếu Quốc tử giám (Hà Nội) độ to lớn, cành lá sum suê tương tự nhau. Những cây đại ở Quốc tử giám đã xác định 500 tuổi. Vậy những cây đại ở Đền Hùng có thể có tuổi tương tự. Ngay phía bên phải bức đại tự “Cao sơn cảnh hành” ở cổng chính có cây thông đường kính bằng cả vòng ôm người lớn, thân thẳng tắp hiên ngang vươn mình đón nắng gió. Theo lời kể của các bậc cao niên trong vùng, đây là cây thông duy nhất còn lại trong số 4 cây thông được một bô lão cung tiến, đưa về trồng ở Đền Hùng, đến nay khoảng 300 tuổi... Cùng với đó, hai cây sui trên Đền Thượng và cây trám ở ngã ba Đền Giếng cũng thuộc dòng cổ thụ.

Trong không gian linh thiêng, uy nghiêm của Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt, mỗi cá thể thực vật ở đây dường như cũng mang trong mình hồn cốt của lịch sử, minh chứng cho sức sống trường tồn của dân tộc ta từ ngàn đời nay.

Bức phù điêu Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong.

Ngời sáng ý chí thời đại Hồ Chí Minh lịch sử

Ngày 19/9/1954, trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308 - Quân đội nhân dân Việt Nam). Tại đây, Bác căn dặn cán bộ, chiến sĩ vào tiếp quản Thủ đô phải giữ nghiêm kỷ luật, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân, chống mọi hành động phá hoại của kẻ thù. Bộ đội phải giúp đỡ Nhân dân, tuyên truyền giải thích cho Nhân dân, không được làm điều gì phiền nhiễu Nhân dân, sao cho từ cụ già đến em bé đều quý mến, tin tưởng... Đặc biệt, Người nhấn mạnh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Lời Bác ở Đền Hùng đã trở thành lời hịch thiêng liêng, ghi tạc trong tâm khảm mỗi người con đất Việt ở khắp mọi miền, với mọi thế hệ. Tư tưởng nhất quán về chủ quyền quốc gia, dân tộc là linh thiêng và bất khả xâm phạm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc tiền nhân dựng nước đã và đang được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta kế thừa, phát huy lên tầm cao mới.

Để ghi tạc và thực hiện lời dặn của Bác Hồ, thể theo nguyện vọng của Nhân dân, năm 2001, Khu di tích lịch sử Đền Hùng được Bộ Quốc phòng công đức xây dựng công trình Bức Phù điêu tại khu vực ngã 5 Đền Giếng với chất liệu bằng các khối đá ghép lại và thể hiện tác phẩm nghệ thuật điêu khắc toàn cảnh Bác Hồ ngồi nói chuyện với các cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong trước cửa Đền Giếng.

Nhằm tiếp tục bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị công trình xứng tầm di tích quốc gia đặc biệt, đồng thời để bảo đảm trang trọng, điều kiện tốt nhất phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Nhân dân tổ chức thực hiện nghi lễ dâng hoa tri ân công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các anh hùng, liệt sĩ đã có công với đất nước, năm 2024, Quân ủy

Trung ương, Bộ Quốc phòng đã công đức tu bổ, tôn tạo nâng cấp bức phù điêu bằng chất liệu đồng, quy mô hoành tráng, giá trị thẩm mỹ xứng tầm lịch sử.

Cùng với hệ thống đền, miếu, bức phù điêu đã trở thành một công trình mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa độc đáo, biểu tượng ngời sáng cho truyền thống anh dũng, bài học về dựng nước phải đi đôi với giữ nước và con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Mạch nguồn đạo lý từ Đền Hùng nhìn ra cả nước

Non thiêng Nghĩa Lĩnh không chỉ là nơi hội tụ linh khí tổ tiên, mà còn là nơi kết tinh những bài học đạo lý lớn lao của dân tộc: Biết tri ân nguồn cội, giữ gìn nghĩa đồng bào, đoàn kết dựng xây đất nước và kiên cường bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Từ những hoành phi, câu đối thấm đẫm hồn thiêng sông núi, cột đá thề gìn giữ cơ nghiệp cha ông, đến những “chứng nhân xanh” lặng lẽ qua bao thế kỷ và lời căn dặn bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng - tất cả đã trở thành mạch nguồn tinh thần bất tận nuôi dưỡng ý chí, niềm tin của các thế hệ người Việt Nam.

Kính cẩn cúi đầu trước anh linh các Vua Hùng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh hôm nay, mỗi người con đất Việt càng thấm thía hơn trách nhiệm giữ gìn cơ nghiệp cha ông, tiếp nối truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước, để từ Đền Hùng nhìn ra cả nước và từ cả nước luôn hướng về Đền Hùng - nơi hội tụ sức mạnh đại đoàn kết và khát vọng trường tồn của dân tộc Việt Nam.

Theo Báo Phú Thọ